24/05/2026 06:31
Internet mở lối sinh kế ở vùng cao (BÀI 2)- Ảnh 1.

(Chinhphu.vn) - Chuyển đổi số không chỉ kéo gần khoảng cách quản trị mà còn mở ra một con đường giảm nghèo bằng tri thức số và kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đang mở ra một "không gian sinh kế mới" cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Từ những phiên livestream bán nông sản ngay giữa bản làng đến các homestay vùng cao được quảng bá trên nền tảng số, nơi điện thoại thông minh dần trở thành công cụ lao động của nhiều hộ dân.

Cú chạm tay vào màn hình và lối rẽ khởi nghiệp

Ở thôn Ná Nàm, xã Bát Xát (Lào Cai), anh Lý Láo Sử, dân tộc Dao, sinh năm 1996, đang là tấm gương khởi nghiệp cho nhiều thanh niên trong thôn, trong xã. Mô hình nuôi dúi má đào của anh không chỉ đem lại thu nhập ổn định cho gia đình mà đã mở ra hướng đi mới trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi của địa phương, được xã chọn làm mô hình "Dân vận khéo" điển hình năm 2026.

Cơ duyên để Lý Láo Sử khởi nghiệp với loài gặm nhấm "ăn tre đẻ ra tiền" bắt đầu từ chiếc điện thoại – phương tiện anh dùng để liên lạc với gia đình trong những tháng ngày làm công nhân lái máy xúc, thường xuyên xa nhà.

Trước năm 2023, sau khi quyết định nghỉ đi công trường, Lý Láo Sử tìm hướng khởi nghiệp ngay tại quê hương. Ban đầu Sử cũng chỉ nghĩ được nuôi trâu, nuôi dê – những vật nuôi truyền thống, nhưng đều thất bại.

Không nản chí, anh tìm tòi hướng đi khác. Trong một lần lướt internet trên điện thoại, anh "chạm" vào thông tin về một vật nuôi còn khá mới ở địa phương – dúi má đào. Mặc dù có giá trị kinh tế cao, ít dịch bệnh nhưng nuôi dúi má đào rất khó thành công nếu không biết kỹ thuật.

Bỏ công "lướt" điện thoại, Sử đã "bỏ túi" một số kinh nghiệm ban đầu từ những hướng dẫn trên internet. Anh quyết định xây dựng chuồng nuôi quy mô 100m2 để nuôi 26 cặp dúi giống, với số vốn 100 triệu đồng vay tín dụng ưu đãi dành cho hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Sau hơn 3 năm, mô hình đã phát triển ổn định với quy mô gần 300 con. Theo giá thị trường, dúi thương phẩm dao động khoảng 500 nghìn đồng/kg, dúi giống khoảng 2,6 triệu đồng/cặp thì Lý Láo Sử đang nắm trong tay một mô hình kinh tế có giá trị hàng trăm triệu đồng, mở ra hướng thoát nghèo bền vững ngay trên chính quê hương mình.

Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2030 được phê duyệt tại Quyết định số 777/QĐ-TTg ngày 30/4/2026. Một trong những nội dung của Chương trình là hỗ trợ 400.000 điện thoại cho hộ nghèo, cận nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn, thời gian thực hiện chương trình từ 30/4/2026 đến 31/12/2030.

Internet mở lối sinh kế ở vùng cao (BÀI 2)- Ảnh 4.
Internet mở lối sinh kế ở vùng cao (BÀI 2)- Ảnh 5.

Mô hình chăn nuôi dúi của gia đình anh Lý Láo Sử, thôn Ná Nàm - Ảnh: UBND xã Bát Xát

"Kéo" bản làng vào kinh tế số

Không riêng Lý Láo Sử, ở nhiều bản làng miền núi, internet đang trở thành "cánh cửa" mở ra tri thức và cơ hội sinh kế mới cho thanh niên dân tộc thiểu số. Từ một chiếc điện thoại thông minh có kết nối mạng, nhiều người trẻ đã tiếp cận các mô hình kinh tế mới trước đây họ chưa từng biết tới.

Những cú chạm tay trên màn hình điện thoại đang dần thay đổi tư duy sản xuất, mở ra khát vọng làm giàu ngay trên chính quê hương mình. Ở những nơi từng bị ngăn cách bởi núi cao, đường xa và thiếu thông tin, internet đang tạo ra những "lối rẽ khởi nghiệp" đầy triển vọng.

Kỳ vọng hình thành kinh tế số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đang dần trở nên rõ nét khi tỷ lệ hộ gia đình có thiết bị kết nối internet tăng mạnh. Nếu năm 2015, toàn vùng mới chỉ khoảng 6,5% hộ có điện thoại thông minh hoặc máy tính để truy cập internet thì đến năm 2024, con số này đã đạt 85,6%. Đây là kết quả từ hai cuộc điều tra thu thập thông tin kinh tế - xã hội 53 dân tộc thiểu số lần thứ I năm 2015 và lần thứ III năm 2024.

Nhưng cũng như quá trình xây dựng chính quyền số, phía sau sự chuyển động của kinh tế số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi in đậm dấu ấn của những "hạt nhân" tại cơ sở. Đó là cán bộ xã, đoàn viên thanh niên, tổ công nghệ số cộng đồng hoặc những người trẻ biết sử dụng công nghệ quay trở về quê khởi nghiệp.

Trở lại thôn Ná Nàm của xã Bát Xát, trước sáp nhập thuộc xã Bản Qua, huyện Bát Xát. Xã Bản Qua (cũ) đạt chuẩn nông thôn mới năm 2017, nhưng sau nhiều năm, kinh tế chưa có đột phá, thu nhập của đại đa số gia đình ở thôn vẫn chủ yếu từ những cây trồng, vật nuôi truyền thống.

Trong bối cảnh đó, mô hình nuôi dúi má đào của anh Lý Láo Sử càng có ý nghĩa đặc biệt trong hành trình tuyên truyền, vận động người dân trên địa bàn xã chuyển đổi tư duy sản xuất gắn với chuyển đổi số. Ngoài kết quả về kinh tế thì đây cũng là lý do để Đảng ủy xã Bát Xát chọn mô hình của anh Sử làm điển hình "Dân vận khéo" năm 2026.

Khi đến thăm mô hình này, ông Nguyễn Kiều Phương, Bí thư Đảng ủy xã Bát Xát, khẳng định mô hình không dừng lại ở sự phát triển kinh tế của một hộ gia đình mà còn là minh chứng cho hiệu quả của công tác "Dân vận khéo" tại cơ sở.

"Trước hết là khéo trong vận động, giúp người dân thay đổi tư duy sản xuất, mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu vật nuôi phù hợp với điều kiện thực tế. Đồng thời là cái khéo trong việc hướng dẫn, hỗ trợ người dân tiếp cận và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất", ông Phương chia sẻ.

Internet mở lối sinh kế ở vùng cao (BÀI 2)- Ảnh 6.
Internet mở lối sinh kế ở vùng cao (BÀI 2)- Ảnh 7.
Internet mở lối sinh kế ở vùng cao (BÀI 2)- Ảnh 8.
Internet mở lối sinh kế ở vùng cao (BÀI 2)- Ảnh 9.

Tổ công nghệ số cộng đồng đồng hành cùng người dân vùng cao trên hành trình chuyển đổi số - Ảnh: VGP

Internet mở lối sinh kế ở vùng cao (BÀI 2)- Ảnh 10.

Không còn là câu chuyện công nghệ đơn thuần, chuyển đổi số đang trở thành con đường mở sinh kế mới, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

Nhưng cũng cần thấy rằng, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, ngoài hạn chế về hạ tầng thì chuyển đổi số còn gặp thách thức do đại đa số người dân còn thiếu kỹ năng số - rào cản "mềm" nhưng khó vượt qua. Trong khi đó, muốn chuyển đổi số thành công phải bắt đầu từ con người.

Chính vì vậy, mô hình tổ công nghệ số cộng đồng (CNSCĐ) đã ra đời với sứ mệnh hỗ trợ người dân tiếp cận, sử dụng công nghệ số dễ hiểu, dễ thực hiện nhất. Từ mô hình đơn lẻ ở địa phương, đến nay 100% xã, phường trên cả nước đã thành lập tổ CNSCĐ, với hơn 93.524 tổ cấp thôn, và 457.820 thành viên.

Đơn cử tại Bát Xát (Lào Cai), toàn xã hiện có 55 tổ CNSCĐ, với 520 thành viên. Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch UBND xã Bát Xát, các tổ CNSCĐ là "cánh tay nối dài", góp phần nâng cao nhận thức của người dân về chuyển đổi số, tăng tỷ lệ các chỉ tiêu thực hiện mô hình "thôn số" theo Quyết định số 828/QĐ-UBND ngày 27/3/2026 của UBND tỉnh Lào Cai trên địa bàn xã.

"Xã cũng thành lập Tổ chuyển đổi số khối Đảng, đoàn thể. Ngoài các hội nghị tập huấn, Tổ chuyển đổi số của xã tiếp tục duy trì triển khai hỗ trợ các thôn bằng nhiều hình thức linh hoạt, kết hợp trực tiếp và trực tuyến, kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai", ông Hùng cho biết.

Và chỉ khi sóng viễn thông được phủ đến từng thôn bản, khi người dân vùng cao có đủ kỹ năng để bước vào môi trường số và khi công nghệ thực sự trở thành công cụ tạo sinh kế, chuyển đổi số mới phát huy trọn vẹn ý nghĩa như một động lực phát triển. Bởi thu hẹp khoảng cách số không chỉ là bài toán công nghệ, mà còn là điều kiện để không biến khoảng cách địa lý thành khoảng cách thu nhập trong tiến trình phát triển đất nước.

Trong Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2030 được phê duyệt tại Quyết định số 777/QĐ-TTg ngày 30/4/2026, Chính phủ đặt mục tiêu 100% thôn đã có điện thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển, hải đảo, nhà giàn trên biển, đều được hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất và dịch vụ truy nhập internet băng rộng cố định mặt đất. Chương trình sẽ hỗ trợ bù đắp chi phí phát triển mới và duy trì cơ sở hạ tầng viễn thông để cung cấp dịch vụ viễn thông trên mạng viễn thông di động mặt đất, khu vực chưa có dịch vụ viễn thông di động mặt đất ở các địa bàn này.

Sơn Hào