04/10/2026 10:32

Dựng sinh kế bền vững cho lao động dân tộc thiểu số

(Chinhphu.vn) - Việc làm bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải bắt rễ từ lợi thế bản địa, điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất và nhu cầu cộng đồng. Đào tạo nghề vì thế không chỉ để “có nghề”, mà phải mở ra sinh kế, thu nhập và khả năng tự vươn lên.

Tuyến bài “Dựng sinh kế bền vững cho lao động dân tộc thiểu số” nhìn từ đào tạo nghề, kết nối thị trường đến phát huy giá trị văn hóa, bảo vệ rừng và tài nguyên thiên nhiên. Khơi đúng nội lực để việc làm trở thành sinh kế, tạo động lực giảm nghèo bền vững cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

BÀI 1: Đào tạo nghề - Không để kỹ năng đứng ngoài sinh kế

Đào tạo nghề vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) không thể bắt đầu từ những ngành nghề có sẵn, mà phải bắt đầu từ tài nguyên, văn hóa, tập quán sản xuất và lợi thế của từng vùng.

Dựng sinh kế bền vững cho lao động dân tộc thiểu số (BÀI 1)- Ảnh 1.

Số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy nguồn cung lao động dồi dào. Trong 9 tháng đầu năm 2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đạt 53,8 triệu người, tăng hơn 697 nhìn người so cùng kỳ (năm 2025 có khoảng 53,5 triệu người, tăng khoảng 589,5 nghìn người so với năm 2024).

Đáng bàn là tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ vẫn khiêm tốn so với yêu cầu công nghiệp hóa và chuyển đổi số. Theo báo cáo của Cục Thống kê, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 29,8%, đồng thời hiện có khoảng 32,5 triệu lao động làm việc trong khu vực phi chính thức.

Sự đối lập giữa số lượng và chất lượng của lao động đặc biệt rõ nét ở vùng đồng bào DTTS và miền núi. Điều tra thực trạng kinh tế-xã hội 53 DTTS lần thứ III chỉ ra, trong khoảng 7,5 triệu người DTTS từ 15 tuổi trở lên tham gia lượng lao động chỉ có 14,6% đã qua đào tạo từ sơ cấp trở lên.

Lao động người DTTS chủ yếu sinh sống ở nông thôn, làm việc trong khu vực phi chính thức. Số liệu cho thấy, có gần 6,4 triệu lao động DTTS phân bố ở nông thôn và hơn 1,1 triệu người ở thành thị; tỷ trọng người DTTS có việc làm trong nông, lâm và thủy sản là 63,5% (trong đó có đến 84,6% lao động làm công việc đơn giản).

Dựng sinh kế bền vững cho lao động dân tộc thiểu số (BÀI 1)- Ảnh 2.

Tại buổi làm việc với Bộ Nội vụ ngày 8/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng, điểm nghẽn của thị trường lao động hiện nay không phải thiếu người làm việc, mà thiếu lao động đáp ứng yêu cầu phát triển.

Nguồn nhân lực còn thiếu kỹ năng nghề, kỹ năng số, trong khi đào tạo chưa sát nhu cầu việc làm và già hóa dân số diễn ra nhanh.

“Việt Nam có lực lượng lao động đông, cần cù, ham học hỏi, có khả năng thích ứng với điều kiện làm việc mới. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, những lợi thế này chỉ phát huy hiệu quả khi được chuyển hoá thành nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển thành kỹ năng, kỷ luật, năng suất và năng lực sáng tạo”.
Thông báo số 123-TB/VPTW ngày 16/7/2026 kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Bộ Nội vụ ngày 8/7/2026
Dựng sinh kế bền vững cho lao động dân tộc thiểu số (BÀI 1)- Ảnh 3.

"Độ vênh" giữa số lượng và chất lượng lao động đang hiện diện ở hầu hết các địa phương vùng đồng bào DTTS và miền núi. Đây chính là "điểm nghẽn" khiến nguồn nhân lực dồi dào chưa chuyển hóa tương xứng thành việc làm bền vững và thu nhập ổn định.

Tại xã Cốc San (Lào Cai), trao đổi với Báo điện tử Chính phủ, Bí thư Đảng ủy xã Đặng Công Hải cho biết, Cốc San có lực lượng lao động khá dồi dào, trong đó đồng bào DTTS chiếm gần 62%. Lao động trên địa bàn chủ yếu làm nông nghiệp, kỹ năng nghề, trình độ chuyên môn của một bộ phận lao động chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường.

"Chúng tôi xác định giải quyết việc làm không chỉ là đạt chỉ tiêu về số lượng, mà quan trọng là tạo việc làm bền vững, có thu nhập ổn định", ông Hải chia sẻ.

Đây cũng là thực tế chung của nhiều địa phương khác trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Từ khi sáp nhập với Yên Bái, tỉnh Lào Cai tiếp tục quan tâm đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, nhưng kết quả vẫn còn khiêm tốn.

Trong 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh tuyển sinh, đào tạo mới 24.656 người, trong đó có 16.368 người đào tạo trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng; trước đó, trong 4 tháng cuối năm 2025 tuyển mới đào tạo nghề cho trên 15.500 người (8.850 người trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng). Hết quý III/2026, ước tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ của tỉnh mới đạt 26,83%.

Dựng sinh kế bền vững cho lao động dân tộc thiểu số (BÀI 1)- Ảnh 4.
Dựng sinh kế bền vững cho lao động dân tộc thiểu số (BÀI 1)- Ảnh 5.
Dựng sinh kế bền vững cho lao động dân tộc thiểu số (BÀI 1)- Ảnh 6.
Dựng sinh kế bền vững cho lao động dân tộc thiểu số (BÀI 1)- Ảnh 7.

Xã Cốc San (Lào Cai) tổ chức các phiên giao dịch việc làm, đồng thời giới thiệu những mô hình kinh tế hiệu quả trên địa bàn, góp phần kết nối người lao động với cơ hội việc làm và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương

Cũng như Lào Cai, các địa phương vùng đồng bào DTTS và miền núi đều chú trọng đào tạo nghề cho lao động để góp phần nâng chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ. Chỉ tính riêng thực hiện Chương trình MTQG 1719, trong 5 năm (2021-2025), toàn vùng có 238.958 lao động DTTS được hỗ trợ đào tạo nghề.

Một điểm nhấn trong những năm gần đây là đào tạo nghề đã từng bước gắn với thị trường lao động, các nghề phi nông nghiệp đang thu hút được nhiều lao động DTTS tham gia. Nhưng nghịch lý xuất hiện khi không ít lao động học xong nghề phải rời quê mưu sinh, hoặc quay lại làm nông như cũ.

Tại xã Hữu Kiệm (Nghệ An), theo Chủ tịch UBND xã Nguyễn Văn Long, do đất trồng lúa toàn xã chỉ khoảng 73ha nên xã chú trọng đào tạo nghề phi nông nghiệp để chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, xã không có nhà máy, xưởng chế biến nên có nhiều lao động sau đào tạo không biết làm gì.

"Một bộ phận người dân trên địa bàn xã thiếu sinh kế ổn định, tỷ lệ nghèo đa chiều toàn xã chiếm 58%, khoảng 3.000 lao động địa phương rời quê đi làm việc ngoài tỉnh, chiếm gần 30% dân số của xã", ông Long thông tin.

Thực trạng đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động DTTS đã được đánh giá tại hội thảo khoa học do Bộ Dân tộc và Tôn giáo phối hợp với UBND tỉnh Lai Châu tổ chức ngày 11/8/2026.

Tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nông Thị Hà cho rằng, công tác đào tạo nghề chỉ thực sự thành công khi kỹ năng tạo ra thu nhập, nếu người học "biến mất" sau lễ trao chứng chỉ, chính sách mới hoàn thành phần dễ nhất.

Dựng sinh kế bền vững cho lao động dân tộc thiểu số (BÀI 1)- Ảnh 8.

Những câu chuyện từ Lào Cai, Nghệ An và nhiều địa phương vùng đồng bào DTTS cho thấy đào tạo nghề chỉ là điểm khởi đầu, không phải điểm kết thúc của chính sách việc làm. Đây chính là điểm mấu chốt cần được nhìn nhận khi thiết kế chính sách đào tạo nghề ở vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Tại buổi làm việc với Bộ Nội vụ ngày 8/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho vùng đồng bào DTTS và miền núi. Trong đó đào tạo nghề phải gắn với nhu cầu việc làm, sinh kế và điều kiện thực tế của từng vùng, từng cộng đồng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặc biệt lưu ý, giáo dục nghề nghiệp và đào tạo kỹ năng cần gắn với sinh kế, không áp đặt mô hình chung, không đào tạo theo phong trào, hình thức. Hiệu quả cần được nhìn từ việc làm được tạo ra, sản phẩm được tiêu thụ và thu nhập của người dân tăng lên.

Đây là sự chuyển đổi quan trọng trong cách tiếp cận, từ "đào tạo một nghề" sang "kiến tạo một sinh kế". Hiệu quả đào tạo không chỉ đo bằng số người tham gia, số lớp mở hoặc số chứng chỉ được cấp, mà quan trọng hơn là bao nhiêu người có việc làm, bao nhiêu người duy trì được nghề, thu nhập thay đổi ra sao và sản phẩm có thị trường.

Lựa chọn nghề để đào tạo cho lao động DTTS là một định hướng quan trọng trong kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khi làm việc với Bộ Nội vụ. Không nhất thiết phải chọn nghề mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước định hướng tập trung vào những lĩnh vực phù hợp với từng vùng, từng cộng đồng.

"Tập trung phát triển nông nghiệp đặc sản, kinh tế rừng, dược liệu, chăn nuôi, thủ công truyền thống, du lịch cộng đồng, dịch vụ biên mậu, thương mại điện tử, sản phẩm địa phương, bảo vệ và phát triển rừng", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ.

Thực tế vùng đồng bào DTTS và miền núi không thiếu lợi thế để phát triển sinh kế. Vấn đề là đào tạo nghề phải đi cùng khả năng khai thác những lợi thế ấy. 

Từ "có nghề" đến "sống được bằng nghề" chính là khoảng cách chính sách cần thu hẹp để nguồn nhân lực vùng đồng bào DTTS thực sự trở thành động lực phát triển.

Dựng sinh kế bền vững cho lao động dân tộc thiểu số (BÀI 1)- Ảnh 9.
Dựng sinh kế bền vững cho lao động dân tộc thiểu số (BÀI 1)- Ảnh 10.
Dựng sinh kế bền vững cho lao động dân tộc thiểu số (BÀI 1)- Ảnh 11.
Dựng sinh kế bền vững cho lao động dân tộc thiểu số (BÀI 1)- Ảnh 12.
Dựng sinh kế bền vững cho lao động dân tộc thiểu số (BÀI 1)- Ảnh 13.

Đào tạo nghề cần gắn chặt với nhu cầu việc làm, sinh kế và điều kiện thực tiễn của từng vùng, từng cộng đồng, qua đó giúp người dân nâng cao năng lực, tạo việc làm bền vững và cải thiện thu nhập

Ngày 12/8/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1538/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 123-TB/VPTW ngày 16/7/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Trong Kế hoạch, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính và các địa phương rà soát, đánh giá thực trạng chất lượng nguồn lao động; xây dựng bản đồ thiếu hụt lao động và kỹ năng theo ngành, nghề, vùng và địa phương, trong đó có đô thị, nông thôn, vùng đồng bào DTTS; thời gian hoàn thành trong quý IV/2027.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Dân tộc và Tôn giáo hằng năm rà soát, đề xuất chính sách đặc thù, lồng ghép các nhiệm vụ tạo việc làm bền vững, đào tạo gắn với sinh kế, thông tin thị trường lao động và dịch vụ việc làm cho lao động vùng đồng bào DTTS vào các chương trình, chính sách có liên quan; ưu tiên các ngành, nghề phù hợp với điều kiện từng vùng, dân tộc và cộng đồng như nông nghiệp đặc sản, kinh tế rừng, dược liệu, nghề thủ công truyền thống, du lịch cộng đồng, dịch vụ biên mậu và sản phẩm địa phương.

BÀI 2: Sinh kế không thể đứng ngoài thị trường

Sơn Hào