Download on the
App Store
(Chinhphu.vn) - Trong những năm qua, ngành y tế Việt Nam đã ghi dấu ấn bằng nhiều bước tiến quan trọng, từ làm chủ kỹ thuật cao, mở rộng hợp tác quốc tế đến đổi mới tư duy quản lý sức khỏe toàn dân. Những thành tựu đó không chỉ khẳng định năng lực chuyên môn ngày càng vững vàng mà còn cho thấy vị thế ngày càng rõ nét của y học Việt Nam trên bản đồ khu vực và thế giới. Tuy nhiên, phía trước vẫn còn không ít thách thức, đòi hỏi các giải pháp đồng bộ, dài hạn và quyết liệt hơn, đặc biệt là bài toán nhân lực và đầu tư cho y tế dự phòng.
Theo GS.TS Nguyễn Duy Anh, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương, lĩnh vực sản phụ khoa, một trong "tứ trụ" của y học đã có bước phát triển vượt bậc. Việt Nam hiện đã làm chủ hầu hết các kỹ thuật cao của thế giới trong chuyên ngành này, từ chẩn đoán trước sinh, can thiệp bào thai đến điều trị vô sinh hiếm muộn và bảo tồn chức năng sinh sản.

GS.TS Nguyễn Duy Anh, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Ảnh: VGP/Quang Thương
Không chỉ tiếp cận công nghệ hiện đại, y học Việt Nam còn tham gia sâu vào các nghiên cứu đa quốc gia. Trong nhiều đề tài lớn, Việt Nam là một trong những quốc gia cung cấp số liệu và mẫu nghiên cứu hàng đầu, góp phần thay đổi thực hành lâm sàng toàn cầu, đặc biệt trong lĩnh vực tiền sản giật, một biến chứng nguy hiểm của thai kỳ.
Một dấu mốc đặc biệt khác của ngành y tế Việt Nam trong giai đoạn vừa qua là cuộc chiến chống đại dịch Covid-19. PGS.TS Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, nhận định đây là "cuộc chiến không tiếng súng nhưng vô cùng cam go".
Nhìn rộng hơn, trong nhiều thập kỷ qua, công tác phòng bệnh của Việt Nam đã đạt được những thành tựu mang tính bước ngoặt: thanh toán bệnh đậu mùa từ những năm 1980, thanh toán bại liệt vào năm 2000, loại trừ uốn ván sơ sinh năm 2005. Nhiều bệnh truyền nhiễm có vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng đã giảm hàng trăm đến hàng nghìn lần so với trước đây. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng đáng kể, ở mức cao so với nhiều quốc gia có cùng mức thu nhập, một chỉ dấu quan trọng phản ánh hiệu quả của hệ thống y tế dự phòng.
Theo PGS.TS Trần Đắc Phu, những quyết sách mới của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết 72-NQ/TW, đã thể hiện rõ định hướng chuyển tư duy từ tập trung khám chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh.

PGS.TS TRẦN ĐẮC PHU, Nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng Ảnh: VGP/Quang Thương
PGS.TS TRẦN ĐẮC PHU, Nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng
Là người đứng trong đội ngũ của những người làm công tác phòng bệnh, chúng tôi rất phấn khởi và ấn tượng trước những quyết sách mới đây của Đảng và Nhà nước về công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đặc biệt Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị đã có nhiều đổi mới đột phá như chuyển tư duy tập trung khám bệnh chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh. Ở đây tôi không muốn nói rằng là chúng ta không chữa bệnh, nhưng mà rõ ràng là phải đi theo hướng như Nghị quyết 72 đã chỉ đạo. Phòng bệnh toàn diện, phòng bệnh theo vòng đời, đầu tư phòng bệnh mạnh mẽ cho công tác phòng bệnh mà cụ thể là y tế dự phòng và y tế cơ sở.
Ngành y tế Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để bứt phá khi nền tảng chuyên môn ngày càng vững chắc, hợp tác quốc tế mở rộng và tư duy quản lý sức khỏe có sự chuyển biến rõ rệt. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần giải quyết căn cơ bài toán nhân lực, đặc biệt ở tuyến cơ sở và y tế dự phòng; bảo đảm nguồn lực tài chính ổn định; đồng thời xây dựng hệ thống chăm sóc sức khỏe công bằng, hiệu quả, lấy người dân làm trung tâm. Chỉ khi đó, mục tiêu bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân trong giai đoạn phát triển mới mới có thể được hiện thực hóa một cách vững chắc.