(Chinhphu.vn) - Qua nhiều giai đoạn, Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách và dành nguồn lực đáng kể để hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, do quá trình triển khai còn gặp nhiều khó khăn, cùng với những yếu tố khách quan như quỹ đất ngày càng hạn hẹp, biến động về sử dụng đất và điều kiện đặc thù ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vấn đề này đến nay vẫn là bài toán nan giải. Thực tiễn cho thấy, để chính sách phát huy hiệu quả, cần giải quyết đồng bộ các khâu cốt lõi: hoàn thiện cơ chế tạo lập quỹ đất; giao đất đúng đối tượng; bảo đảm người dân có điều kiện giữ đất, khai thác hiệu quả đất được giao hay những giải pháp thay thế có tính khả thi cao. Khi những "mắt xích" này được hoàn thiện đồng bộ, chính sách mới có thể giải quyết căn cơ tình trạng thiếu đất và tạo sinh kế bền vững cho người dân.
Chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào DTTS đã được triển khai qua nhiều giai đoạn với nguồn lực rất lớn. Thế nhưng, tình trạng thiếu đất vẫn kéo dài ở nhiều địa phương.
Từ năm 2002 đến năm 2011, theo báo cáo của Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo), ngân sách nhà nước đã chi hơn 23 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ đất ở, đất sản xuất. Nhưng kết thúc năm 2011, cả nước vẫn còn 326.909 hộ có nhu cầu cấp bách, trong đó có 293.934 hộ thiếu đất sản xuất, 32.975 hộ thiếu đất ở.
Chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất sau đó tiếp tục được triển khai trên diện rộng. Nhưng đến năm 2019, khi Chính phủ rà soát để xây dựng Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi, qua rà soát thì có 58.123 hộ thiếu đất ở, 303.587 hộ thiếu đất sản xuất.
Từ năm 2021 đến nay, chính sách này được tích hợp trong Dự án 1 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi theo Quyết định 1719/QĐ-TTg (Chương trình MTQG 1719). Mục tiêu hết năm 2025 sẽ giải quyết nhu cầu đất ở cho hơn 17.400 hộ, hỗ trợ trực tiếp đất sản xuất cho hơn 47.200 hộ.
Nhưng kết thúc giai đoạn, việc thực hiện hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào DTTS ở các địa phương không mấy khả quan. Thậm chí, sau khi nhiệm vụ này được cho phép kéo dài sang thực hiện năm 2026, kết quả triển khai cũng chưa có nhiều chuyển biến tích cực.





Người dân xã Măng Đen, tỉnh Quảng Ngãi thu hoạch lúa trên những thửa ruộng bậc thang giữa núi rừng. Sau sáp nhập, tỉnh có hơn 2,1 triệu dân, trong đó gần 542.000 người là đồng bào dân tộc thiểu số - Ảnh: Măng Đen
Đơn cử tại Quảng Ngãi, giai đoạn 2021 - 2025, toàn tỉnh có 1.038 hộ nằm trong danh sách được hỗ trợ đất ở (120 hộ thuộc tỉnh Kon Tum cũ, 918 hộ thuộc tỉnh Quảng Ngãi cũ). Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có 2.045 hộ thuộc diện được hỗ trợ trực tiếp đất sản xuất (Kon Tum cũ 676 hộ, Quảng Ngãi cũ 1.369 hộ).
Thực hiện Dự án 1, hết năm 2025, toàn tỉnh chỉ hỗ trợ đất ở cho 71 hộ (đều thuộc tỉnh Kon Tum cũ). Đối với đất sản xuất, cả 2 tỉnh cũ gộp lại cũng mới hỗ trợ được 558 hộ, trong đó Quảng Ngãi cũ có 436 hộ, Kon Tum cũ có 122 hộ.
Theo báo cáo của UBND tỉnh Quảng Ngãi, tính đến ngày 30/6/2026, kết quả thực hiện không thay đổi so với cuối năm 2025. Điều này đồng nghĩa tỷ lệ giải ngân nguồn vốn kéo dài thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất trong 6 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh vẫn "giậm chân tại chỗ".
Qua kiểm tra tại các tỉnh, thành phố được tổ chức từ đầu tháng 7/2026 đến nay, các đoàn công tác Trung ương ghi nhận mục tiêu hỗ trợ đất ở, đất sản xuất là một trong những nội dung khó hoàn thành nhất, nên giai đoạn 2026-2030 nhiều địa phương tỏ ra khá dè dặt trong việc đặt chỉ tiêu thực hiện, dù nhu cầu thực tế vẫn còn rất lớn.
Như Quảng Ngãi, tỉnh đặt lộ trình đến năm 2030 sẽ hỗ trợ đất ở cho 4.140 hộ, đất sản xuất cho 690 hộ. Để "thăm dò" độ khó trong quá trình triển khai, năm 2026, tỉnh chỉ đặt mục tiêu hỗ trợ đất ở cho 414 hộ, đất sản xuất cho 69 hộ; lũy kế năm 2027 phấn đấu hỗ trợ 1.346 hộ về đất ở, 224 hộ về đất sản xuất…
Động thái của một tỉnh có diện tích lớn thứ năm cả nước như Quảng Ngãi cho thấy, hiện không có nhiều địa phương đặt kỳ vọng cao trong việc giải quyết căn bản tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất cho đồng bào DTTS.
Trong nửa đầu tháng 7/2026, 8 đoàn công tác Trung ương do Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì đã trực tiếp kiểm tra tại: Lâm Đồng, Khánh Hòa, Tuyên Quang, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Thanh Hóa, Nghệ An Phú Thọ, Lào Cai, Cao Bằng, Sơn La, Điện Biên, Thái Nguyên. Đồng thời, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội cũng đã tổ chức các đoàn khảo sát về thực hiện chính sách về đất đai cho đồng bào DTTS tại các tỉnh: Tuyên Quang, Lào Cai, Đăk Lăk, Đồng Nai, Quảng Ngãi,... Kết quả khảo sát cho thấy công tác giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các địa phương vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Thiếu (hoặc không có) đất ở, đất sản xuất đang là nguyên nhân chính của nhiều vấn đề xã hội cấp bách tại vùng đồng bào DTTS, đặc biệt là tình trạng nghèo đa chiều. Đây là "nút thắt" khiến tình trạng nghèo đa chiều đang "co lại" ở vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Quảng Ngãi là một ví dụ, toàn tỉnh hiện có 8.748 hộ nghèo người DTTS, chiếm 64,34% tổng số hộ nghèo của tỉnh. Ngoài ra số hộ cận nghèo người DTTS hiện còn chiếm tỷ lệ 55,23% tổng số hộ cận nghèo của tỉnh (tương ứng 5.615 hộ).
Nguyên nhân của nghèo đa chiều đã được Quảng Ngãi phân tích trong kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025, được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 29/1/2026. Trong đó xác định rõ toàn tỉnh còn 2.294 hộ nghèo và 1.797 hộ cận nghèo do không có đất sản xuất.
Ngoài ra, thông qua chỉ số diện tích bình quân nhà ở cũng phần nào cho thấy sự thiếu hụt về đất ở của một số hộ nghèo, hộ cận nghèo tại Quảng Ngãi. Hết năm 2025, tỉnh có 2.086 hộ nghèo và 850 hộ cận nghèo do thiếu hụt chỉ số diện tích nhà ở bình quân đầu người.




Đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Ia Chim, tỉnh Quảng Ngãi - Ảnh: Ia Chim
Nguy cơ "nghèo bền vững" đang hiện hữu ở những gia đình không có (hoặc thiếu) đất ở, đất sản xuất, nhất là với những hộ neo đơn. Như gia đình Y Pyĩu, dân tộc Gia Rai, ở thôn Plei Sar, xã Ia Chim (Quảng Ngãi), nhà chỉ có 1 nhân khẩu, không có đất ở và đất sản xuất nên bao năm nay vẫn nằm trong danh sách hộ nghèo của xã.
Theo ông Ka Rô Chinh, Phó Chủ tịch UBND xã Ia Chim, tính đến tháng 6/2026, toàn xã chỉ còn 12 hộ nghèo, trong đó có 3 hộ ở thôn Plei Sar. Ngoài hộ Y Pyĩu không có đất sản xuất lẫn đất ở thì 2 hộ còn lại nghèo do không có đất sản xuất. Ở thôn Plei Sar còn có 6 gia đình người DTTS không có đất sản xuất cũng đang thuộc diện hộ cận nghèo.





Xã biên giới Chiềng Sơn, tỉnh Sơn La hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho các hộ nghèo trên địa bàn - Ảnh: Chiềng Sơn
Hay như tại Điện Biên, toàn tỉnh hiện có 44.289 hộ nghèo và cận nghèo thì có tới 11.087 hộ do thiếu đất sản xuất.
Còn tại Sơn La, hết năm 2025, tỉnh này còn hơn 28.000 hộ nghèo và hơn 22.700 hộ cận nghèo, trong đó có 5.484 hộ nghèo và 3.927 hộ cận nghèo do không có đất sản xuất. Không riêng nông thôn mà ở khu vực thành thị của tỉnh vẫn còn hộ nghèo và cận nghèo vì nguyên nhân này, như Phường Chiềng An có 21 hộ, phường Chiềng Cơi có 30 hộ…
Những con số từ Quảng Ngãi, Điện Biên, Sơn La cho thấy, đất ở, đất sản xuất không chỉ là một chỉ tiêu trong các chương trình mục tiêu quốc gia, mà là điều kiện tiên quyết để đồng bào có điều kiện thoát nghèo. Vì thế, việc triển khai chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất tại nhiều địa phương cần có chuyển biến rõ nét hơn cũng như đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận lại những điểm nghẽn trong quá trình tổ chức thực hiện.
Hơn hai thập kỷ triển khai với nhiều chính sách và nguồn lực đầu tư lớn, mục tiêu bảo đảm đất ở, đất sản xuất cho đồng bào DTTS vẫn nhiều lần "lỡ hẹn". Thực tiễn cho thấy, để chính sách đi đến đích không chỉ cần nguồn lực mà còn phải hoàn thiện đồng bộ các "mắt xích" trong quá trình thực thi.
Trong đó, câu hỏi được nhiều địa phương đặt ra là: Nếu quỹ đất đã không còn, lấy đâu đất để giao cho người dân? Đây cũng là "mắt xích" đầu tiên cần được làm rõ để tìm lời giải căn cơ cho bài toán đất ở, đất sản xuất.
Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 12/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương.
Trong đó, Thủ tướng yêu cầu ưu tiên tập trung nguồn lực để triển khai hiệu quả các chính sách dân tộc, trọng tâm là giải quyết các nhu cầu thiết yếu và cấp bách của đồng bào như đất ở, nhà ở, đất sản xuất, điện, nước sinh hoạt và hạ tầng xã hội thiết yếu, góp phần ổn định đời sống, nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Bài 2: Khơi thông quỹ đất để chính sách đi tới đích
Sơn Hào