In bài viết
Bài 2: Khơi thông quỹ đất để chính sách đi tới đích- Ảnh 1.

Bài 2: Khơi thông quỹ đất để chính sách đi tới đích

Đằng sau nguyên nhân không còn quỹ đất là hàng loạt điểm nghẽn về cơ chế, nguồn lực và quản lý đất đai chưa được tháo gỡ. Khi quỹ đất chưa được khai thông, mục tiêu giao đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) rất khó thực hiện.

"Không còn quỹ đất" là nguyên nhân được nhiều địa phương nhắc đến khi giải thích vì sao mục tiêu hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào DTTS chưa đạt kết quả như mong muốn. Tuy nhiên, nếu quỹ đất thực sự đã cạn kiệt thì vì sao Trung ương nhiều lần yêu cầu rà soát, thu hồi diện tích đất nông, lâm trường sử dụng không hiệu quả để tạo quỹ đất, ưu tiên thực hiện chính sách đất đai cho đồng bào DTTS?

Đi tìm lời giải cho nghịch lý này cũng chính là bước tiếp theo để "giải mã" mắt xích quan trọng nhất trong chính sách đất đai đối với vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Bài 2: Khơi thông quỹ đất để chính sách đi tới đích- Ảnh 2.
Bài 2: Khơi thông quỹ đất để chính sách đi tới đích- Ảnh 3.

Bài toán đất ở, đất sản xuất không chỉ nằm ở việc tìm thêm đất mới, mà còn ở việc sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai hiện có

Bài 2: Khơi thông quỹ đất để chính sách đi tới đích- Ảnh 4.

Một trong những nguyên nhân được nhiều địa phương phản ánh là việc tạo lập quỹ đất ngày càng khó khăn do giá đất tăng nhanh. Mặc dù đã được điều chỉnh tăng qua các giai đoạn nhưng mức hỗ trợ thực hiện chính sách không theo kịp thực tế.

Tại thời điểm năm 2004, thực hiện Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg, mức hỗ trợ chung là 1 triệu đồng/hộ để khai hoang đất sản xuất và mức vay tối đa 5 triệu đồng/hộ để tạo đất ở hoặc mua đất sản xuất. Một số địa phương còn trích kinh phí tự cân đối để hỗ trợ thêm cho hộ có điều kiện đặc biệt khó khăn.

Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg đã kịp thời giải quyết nhu cầu cấp bách về đất đai cho hàng chục nghìn hộ. Nhưng xét tổng thể, mục tiêu giải quyết căn bản tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất ở vùng đồng bào DTTS và miền núi vẫn chưa đạt kế hoạch đề ra.

Theo số liệu tại hội nghị tổng kết 4 năm thực hiện Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg (tổ chức ngày 21/4/2009), các địa phương đã hỗ trợ đất ở, đất sản xuất được 210.377 hộ, chỉ đạt 49,9% so với tổng số hộ thiếu đất theo kế hoạch đã được phê duyệt.

Một trong những nguyên nhân được chỉ rõ là đất khai hoang để cấp cho đồng bào không còn hoặc còn rất ít, muốn khai hoang phải đầu tư nhiều kinh phí do đất phân tán, rải rác, xa nơi ở. Có nơi giá đất quá cao, với mức hỗ trợ của Nhà nước và thêm cả phần vốn vay theo quy định hiện hành đồng bào cũng không đủ chi phí để khai hoang hoặc mua mới.

Từ năm 2010 đến nay, chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào DTTS được thiết kế phù hợp hơn, trong đó định mức đã được tăng lên. Giai đoạn 2021 - 2025, thực hiện Dự án 1 của Chương trình MTQG 1719, mỗi hộ được hỗ trợ tối đa 40 triệu đồng về đất ở, tối đa 15 triệu đồng về đất sản xuất.

Mặc dù định mức đã được nâng lên gấp nhiều lần so với trước đây nhưng việc triển khai chính sách đất đai thuộc phạm vi Dự án 1 vẫn vô cùng khó khăn. Kết thúc giai đoạn, các địa phương chỉ hỗ trợ đất ở được cho 10.549/17.400 hộ và đất sản xuất cho 13.387/47.200 hộ.

Chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất thuộc nhóm chỉ tiêu không hoàn thành của Chương trình MTQG 1719. Tại hội nghị tổng kết được tổ chức ngày 15/8/2025, Chính phủ đã thẳng thắn chỉ rõ, định mức hỗ trợ thấp vẫn là một trong những nguyên nhân khiến chính sách khó "về đích".

Hiện bảng giá đất năm 2026 của các tỉnh đã tăng bình quân 30% - 70% đối với đất ở và 20% - 50% đối với đất nông nghiệp so với bảng giá đất thực hiện đến hết năm 2025; khu vực miền núi ghi nhận tăng tương ứng 15 - 30% và 10 -25%. Ví dụ như tại tỉnh Thái Nguyên, đất nông nghiệp là 140 nghìn đồng/m2, đất ở đô thị 100 triệu đồng/m2; giá tương ứng ở Điện Biên là 82 nghìn đồng và 42,5 triệu đồng, Lai Châu là 43 nghìn đồng và trên 9 triệu đồng, Lạng Sơn 43 nghìn đồng và 37,2 triệu đồng…

Bài 2: Khơi thông quỹ đất để chính sách đi tới đích- Ảnh 5.

Tuy nhiên, ngay cả khi định mức được điều chỉnh thì nhiều địa phương vẫn cho rằng khó triển khai vì không còn quỹ đất. Điều đó cho thấy khó khăn lớn hơn không chỉ nằm ở nguồn kinh phí, mà còn ở khả năng tạo lập quỹ đất để thực hiện chính sách.

Nghệ An là một trong những địa phương triển khai hiệu quả chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất thuộc Dự án 1 của Chương trình MTQG 1719. Giai đoạn 2021 – 2025, tỉnh đặt chỉ tiêu hỗ trợ đất ở cho 31 hộ, đất sản xuất cho 1.340 hộ, với tổng nguồn lực hơn 30 tỷ đồng. Hết năm 2025, tỉnh đã giải ngân 100% nội dung này.

Tuy nhiên, theo ông Vi Văn Sơn, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Nghệ An, tới đây nếu phát sinh nhu cầu về đất ở, đất sản xuất thì sẽ rất khó thực hiện. Do phần lớn diện tích đất ở miền Tây Nghệ An hiện thuộc quy hoạch rừng phòng hộ hoặc rừng đặc dụng, khiến quỹ đất sạch gần như không còn để giao cho người dân.

Còn theo Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Cao Thị Xuân cho rằng, Nghệ An có diện tích rất lớn nhưng việc giao đất sản xuất cho đồng bào DTTS vẫn còn hạn chế.

Điều đáng chú ý là, ngay trong bối cảnh được cho là không còn quỹ đất sạch, Nghệ An vẫn còn gần 23 nghìn ha đất có nguồn gốc nông, lâm trường đang do các Tổng đội Thanh niên xung phong quản lý. Điều đó cho thấy vấn đề không hoàn toàn nằm ở việc "hết đất", mà còn ở quá trình rà soát, hoàn thiện hồ sơ pháp lý và khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai hiện có.

Theo đánh giá của Tỉnh đoàn Nghệ An, diện tích rừng và đất lâm nghiệp giao cho các ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, Tổng đội thanh niên xung phong rất lớn, nhưng hồ sơ pháp lý chưa đầy đủ, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm vẫn phức tạp. Điều này khiến nguồn lực đất đai chưa phát huy hết hiệu quả trong phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực miền núi của tỉnh.

Trước khi có Nghị quyết số 28/NQ-TW ngày 16/6/2003 về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh, cả nước có 682 nông, lâm trường, quản lý gần 8 triệu ha đất. Ngoài diện tích 7,4 triệu ha sử dụng hiệu quả thì có 14.629 ha cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng trái pháp luật; 78.486 ha bị lấn chiếm, tranh chấp, chồng lấn chưa giải quyết xong và 428.515 ha chưa sử dụng, hoặc sử dụng vào các mục đích khác. (Báo cáo số 958/BC-UBTVQH13 ngày 16/10/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội)

Bài 2: Khơi thông quỹ đất để chính sách đi tới đích- Ảnh 6.
Bài 2: Khơi thông quỹ đất để chính sách đi tới đích- Ảnh 7.
Bài 2: Khơi thông quỹ đất để chính sách đi tới đích- Ảnh 8.
Bài 2: Khơi thông quỹ đất để chính sách đi tới đích- Ảnh 9.

Để kịp thời chăm lo đời sống người dân, Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Anh Sơn Đông, tỉnh Nghệ An tiến hành khảo sát thực tế các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, làm cơ sở hỗ trợ nhà ở và mô hình sinh kế trong năm 2026 - Ảnh: Anh Sơn Đông

Bài 2: Khơi thông quỹ đất để chính sách đi tới đích- Ảnh 10.

Không riêng Nghệ An mà ở một số địa phương khác đang có một diện tích đất rất lớn có nguồn gốc từ các nông lâm trường quốc doanh chưa được khai thác hiệu quả. Việc sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh được đẩy mạnh từ năm 2003, theo Nghị quyết số 28/NQ-TW của Bộ Chính trị (sau đó là Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014).

Nhưng đến nay một diện tích lớn đất sử dụng chưa hiệu quả vẫn đang trong quá trình rà soát, sắp xếp hoặc chưa được đưa vào sử dụng hiệu quả, trong đó có tạo quỹ đất để thực hiện chính sách đất đai cho đồng bào DTTS.

Tại thời điểm năm 2015, theo Báo cáo số 314/BC-CP của Chính phủ, quỹ đất Nhà nước giao cho các nông, lâm trường quản lý là gần 8 triệu ha. Trong đó có 3.900 ha chuyển nhượng trái pháp luật, bị lấn chiếm, có tranh chấp chưa giải quyết xong; 152.330 ha chưa sử dụng, hoặc sử dụng vào mục đích khác…

Thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW, dự kiến cả nước sẽ thu hồi 531.501 ha từ các nông, lâm trường bàn giao cho địa phương quản lý. Nhưng đến nay, thống kê sơ bộ cho thấy mới có hơn 91.000 ha được bàn giao về địa phương.

Ngày 8/10/2025, Thủ tướng Chính phủ đã có Công điện số 191/CĐ-TTg yêu cầu tập trung triển khai đồng bộ các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và bảo đảm quản lý chặt chẽ tài sản, đất đai của Nhà nước. Trong đó, Thủ tướng Chính phủ giao các địa phương khẩn trương rà soát hiện trạng đất đai có nguồn gốc nông lâm trường.

Việc rà soát phải phân loại rõ đất sử dụng đúng mục đích, đất sử dụng sai mục đích, đất bỏ hoang, đất cho thuê, đất khoán, cũng như các trường hợp tranh chấp, lấn chiếm. Đây là căn cứ Chính phủ tiếp tục chỉ đạo việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty nông, lâm nghiệp, đặc biệt là vấn đề đất đai.

Thực tế cho thấy, Trung ương chưa bao giờ coi "không còn quỹ đất" là điểm kết thúc của chính sách. Ngược lại, nhiều nghị quyết, kết luận và chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đều đặt yêu cầu tiếp tục rà soát quỹ đất nông, lâm trường, đất công sử dụng kém hiệu quả để tạo nguồn lực cho phát triển.

Điều đó cũng có nghĩa, câu trả lời cho bài toán đất ở, đất sản xuất không chỉ nằm ở việc tìm thêm đất mới, mà còn ở việc sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai hiện có. Nếu nguồn lực đất đai chưa được rà soát đầy đủ, chưa được đưa vào phục vụ đúng mục tiêu an sinh thì "không còn quỹ đất" sẽ là lý do khiến mục tiêu thực hiện chính sách đất đai cho đồng bào DTTS tiếp tục lỡ hẹn.

Bài cuối: Để chính sách không dừng ở quyết định giao đất

Sơn Hào