Phê duyệt chủ trương cho phép thành lập Trường Đại học Công nghệ Nam Bình Dương 00:46

Phê duyệt chủ trương cho phép thành lập Trường Đại học Công nghệ Nam Bình Dương

Phê duyệt chủ trương cho phép thành lập Trường Đại học Công nghệ Nam Bình Dương 00:46

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long vừa ký Quyết định số 265/QĐ-TTg ngày 10/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chủ trương cho phép thành lập Trường Đại học Công nghệ Nam Bình Dương. Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương cho phép thành lập Trường Đại học Công nghệ Nam Bình Dương tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tổ chức thẩm định Hồ sơ và thẩm định thực tế Đề án thành lập Trường Đại học Công nghệ Nam Bình Dương tại Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và các quy định của pháp luật có liên quan, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Tặng quà tết đúng đối tượng, đầy đủ chế độ, công khai, minh bạch 01:31

Tặng quà tết đúng đối tượng, đầy đủ chế độ, công khai, minh bạch

Tặng quà tết đúng đối tượng, đầy đủ chế độ, công khai, minh bạch 01:31

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 13/CĐ-TTg ngày 09/02/2026 về việc thực hiện nhiệm vụ chăm lo, hỗ trợ Nhân dân đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Thủ tướng yêu cầu: Chủ động chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân, bảo đảm "mọi người, mọi nhà đều có Tết", "không để ai bị bỏ lại phía sau". Tập trung rà soát, nắm chắc tình hình đời sống của nhân dân, người lao động, nhất là đối tượng chính sách, người có hoàn cảnh khó khăn (người nghèo, người yếu thế, người dân ở vùng bị thiệt hại bởi thiên tai, bão, lũ, sạt lở...) để đặc biệt quan tâm, chăm lo, kịp thời hỗ trợ phù hợp, hiệu quả. Theo dõi, đôn đốc doanh nghiệp chi trả đầy đủ lương, thưởng Tết cho công nhân, người lao động. Tổ chức thăm hỏi, chúc Tết các cán bộ lão thành, Mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình chính sách, người nghèo và người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm tặng quà đúng đối tượng, đầy đủ chế độ, công khai, minh bạch. Chỉ đạo các doanh nghiệp, chủ đầu tư, nhà thầu thi công các công trình, dự án (nhất là các công trình trọng điểm quốc gia) có phương án hỗ trợ, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đầy đủ, chu đáo cho công nhân, người lao động ở lại làm việc trên công trường trong dịp Tết Nguyên đán, bảo đảm kịp thời, thiết thực; tổ chức đón Tết phù hợp cho công nhân, người lao động trên công trường, bảo đảm vui tươi, lành mạnh, đầm ấm, an toàn tiết kiệm, động viên công nhân, người lao động hăng say làm việc, đẩy nhanh tiến độ và bảo đảm chất lượng các công trình.

Quy định đối với việc bán nhà ở xã hội đang cho thuê 01:21

Quy định đối với việc bán nhà ở xã hội đang cho thuê

Quy định đối với việc bán nhà ở xã hội đang cho thuê 01:21

Nghị định số 54/2026/NĐ-CP vừa ban hành sửa đổi, bổ sung khoản 12 Điều 78 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP về quy định chuyển tiếp đối với việc bán nhà ở xã hội đang cho thuê. Quy định mới cho phép chủ đầu tư được ưu tiên bán cho người đang thuê đủ điều kiện khi có nhu cầu mua nhà trước thời hạn 10 năm, dài hơn so với quy định cũ là trước 05 năm. Ngoài ra, quy định mới mở rộng thêm phương án bán lại nhà ở xã hội cho Quỹ nhà ở quốc gia và bổ sung chi tiết cách xác định giá bán nhà ở xã hội đang cho thuê (bao gồm giá thẩm định, lãi vay, khấu hao...). Cụ thể: Trường hợp đang cho thuê nhà ở xã hội theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP thì chủ đầu tư được ưu tiên bán nhà ở cho người đang thuê nếu người thuê nhà ở có nhu cầu mua trước thời hạn 10 năm và đảm bảo đúng đối tượng, điều kiện theo quy định của Nghị định này hoặc bán lại nhà ở này cho Quỹ nhà ở quốc gia. Giá bán nhà ở xã hội đang cho thuê gồm: giá bán đã được thẩm định, xác định tại thời điểm xác định, thẩm định giá thuê, cộng với lãi vay bình quân hằng năm của các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước tương ứng với thời gian thuê và trừ đi phần giá trị khấu hao nhà ở. Giá trị khấu hao nhà ở được xác định bằng giá bán nhà ở đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định nhân với thời gian đã thuê chia cho số năm thu hồi vốn đầu tư đã tính toán để cho thuê.

Phát triển công nghệ trong nước để sản xuất thép tấm cường độ cao, thép dự ứng lực 01:23

Phát triển công nghệ trong nước để sản xuất thép tấm cường độ cao, thép dự ứng lực

Phát triển công nghệ trong nước để sản xuất thép tấm cường độ cao, thép dự ứng lực 01:23

Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2026/NĐ-CP ngày 09/02/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực nhà ở, kinh doanh bất động sản. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về nhà ở xã hội. về điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội, Nghị định số 54/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 29 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP về điều kiện nhà ở theo hướng mở rộng tiêu chí xác định điều kiện chưa có nhà ở, bao gồm cả trường hợp không có thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận và không phụ thuộc thời điểm nộp hồ sơ mua, thuê mua nhà ở xã hội. Đồng thời, thẩm quyền xác nhận cũng được quy định theo hướng rộng hơn là giao cho cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận theo pháp luật đất đai. Cụ thể: Trường hợp chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình được xác định khi đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật Nhà ở và vợ hoặc chồng của đối tượng đó (nếu có) được xác định là không có tên hoặc không có nội dung thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy đề nghị xác nhận về điều kiện nhà ở, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội xác nhận theo quy định tại khoản này. Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2026/NĐ-CP ngày 09/02/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực nhà ở, kinh doanh bất động sản. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về nhà ở xã hội. về điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội, Nghị định số 54/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 29 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP về điều kiện nhà ở theo hướng mở rộng tiêu chí xác định điều kiện chưa có nhà ở, bao gồm cả trường hợp không có thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận và không phụ thuộc thời điểm nộp hồ sơ mua, thuê mua nhà ở xã hội. Đồng thời, thẩm quyền xác nhận cũng được quy định theo hướng rộng hơn là giao cho cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận theo pháp luật đất đai. Cụ thể: Trường hợp chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình được xác định khi đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật Nhà ở và vợ hoặc chồng của đối tượng đó (nếu có) được xác định là không có tên hoặc không có nội dung thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy đề nghị xác nhận về điều kiện nhà ở, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội xác nhận theo quy định tại khoản này.

Bổ sung cơ chế kê khai, cam kết, hậu kiểm về thu nhập hưởng chính sách nhà ở xã hội 01:22

Bổ sung cơ chế kê khai, cam kết, hậu kiểm về thu nhập hưởng chính sách nhà ở xã hội

Bổ sung cơ chế kê khai, cam kết, hậu kiểm về thu nhập hưởng chính sách nhà ở xã hội 01:22

Nghị định số 54/2026/NĐ-CP vừa ban hành sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 30 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP về điều kiện thu nhập để được hưởng chính sách về nhà ở xã hội theo hướng chuyển thẩm quyền xác nhận từ UBND cấp xã sang Công an cấp xã và bổ sung cơ chế kê khai, cam kết, hậu kiểm thu nhập. Quy định mới cũng xác định rõ đơn đề nghị xác nhận là giấy tờ chứng minh đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội. Mức trần thu nhập vẫn giữ theo quy định cũ. Cụ thể: Trường hợp đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 76 của Luật Nhà ở không có hợp đồng lao động thì phải bảo đảm điều kiện về thu nhập theo quy định tại khoản 1 Điều này và được cơ quan Công an cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú hoặc nơi ở hiện tại xác nhận. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xác nhận, Công an cấp xã nơi công dân thường trú hoặc tạm trú hoặc nơi ở hiện tại tại thời điểm công dân đề nghị, có trách nhiệm xác nhận các thông tin gồm: Họ, chữ đệm và tên; Ngày, tháng, năm sinh; giới tính; số định danh cá nhân; ngày, tháng, năm cấp thẻ căn cước/căn cước công dân; nơi thường trú/nơi tạm trú/nơi ở hiện tại. Công dân có trách nhiệm kê khai và cam kết thông tin thu nhập bình quân hàng tháng. Công an cấp xã phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc xác minh, hậu kiểm thông tin thu nhập bình quân hàng tháng của công dân đối với các trường hợp cần thiết. Đơn đề nghị xác nhận điều kiện về thu nhập quy định tại khoản này đồng thời là giấy tờ chứng minh về đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội.

Mở rộng tiêu chí xác định điều kiện chưa có nhà ở 01:29

Mở rộng tiêu chí xác định điều kiện chưa có nhà ở

Mở rộng tiêu chí xác định điều kiện chưa có nhà ở 01:29

Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2026/NĐ-CP ngày 09/02/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực nhà ở, kinh doanh bất động sản. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về nhà ở xã hội. về điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội, Nghị định số 54/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 29 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP về điều kiện nhà ở theo hướng mở rộng tiêu chí xác định điều kiện chưa có nhà ở, bao gồm cả trường hợp không có thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận và không phụ thuộc thời điểm nộp hồ sơ mua, thuê mua nhà ở xã hội. Đồng thời, thẩm quyền xác nhận cũng được quy định theo hướng rộng hơn là giao cho cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận theo pháp luật đất đai. Cụ thể: Trường hợp chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình được xác định khi đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật Nhà ở và vợ hoặc chồng của đối tượng đó (nếu có) được xác định là không có tên hoặc không có nội dung thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy đề nghị xác nhận về điều kiện nhà ở, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội xác nhận theo quy định tại khoản này.

Đến năm 2050, phấn đấu sản xuất  thép thô đạt 70 triệu tấn/năm 01:39

Đến năm 2050, phấn đấu sản xuất thép thô đạt 70 triệu tấn/năm

Đến năm 2050, phấn đấu sản xuất thép thô đạt 70 triệu tấn/năm 01:39

Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 261/QĐ-TTg ngày 09/02/2026 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành thép giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 . Theo đó, đến năm 2030, phấn đấu sản xuất thép thô tăng trưởng bình quân khoảng 7,0% - 8,0%/năm, sản lượng đạt khoảng 25 - 26 triệu tấn/năm. Thép thành phẩm tăng trưởng từ 5,5% - 6,5%/năm, sản lượng đạt khoảng 32 - 33 triệu tấn/năm.Thép tiêu thụ bình quân 270 - 280 kg/người/năm. Sản phẩm của ngành thép về cơ bản đáp ứng được khoảng 80% - 85% nhu cầu sử dụng trong nước và từng bước tăng tỷ trọng xuất khẩu. Tăng dần tỷ lệ các sản phẩm thép có giá trị gia tăng cao: Thép hợp kim, thép không gỉ, thép chất lượng cao phục vụ các ngành chế tạo, sản xuất, phương tiện giao thông vận tải (ô tô, đóng tàu, đường sắt), năng lượng. Bên cạnh đó, phấn đấu đến năm 2050, sản xuất thép thô tăng trưởng bình quân khoảng 4,0% - 4,5%/năm, sản lượng đạt khoảng 65 - 70 triệu tấn/năm. Thép thành phẩm tăng trưởng từ 3,5% - 4,0%/năm, sản lượng đạt khoảng 75 - 80 triệu tấn/năm. Thép tiêu thụ bình quân 570 - 650 kg/người/năm. Sản phẩm của ngành thép về cơ bản đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng thép trong nước và từng bước tăng tỷ trọng xuất khẩu. Sản phẩm của ngành thép tham gia ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng của ngành thép thế giới.

Bổ sung vốn cho Phú Thọ mở rộng đường nối cầu Phong Châu với đường liên vùng 00:37

Bổ sung vốn cho Phú Thọ mở rộng đường nối cầu Phong Châu với đường liên vùng

Bổ sung vốn cho Phú Thọ mở rộng đường nối cầu Phong Châu với đường liên vùng 00:37

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc vừa ký Quyết định số 262/QĐ-TTg ngày 09/02/2026 về việc điều chỉnh nguồn dự phòng ngân sách trung ương năm 2024 đã giao cho Bộ Xây dựng để bổ sung có mục tiêu tương ứng cho tỉnh Phú Thọ. Cụ thể, điều chuyển 196,596 tỷ đồng nguồn dự phòng ngân sách trung ương năm 2024 đã giao cho Bộ Xây dựng tại Quyết định số 1389/QĐ-TTg ngày 15/11/2024 của Thủ tướng Chính phủ để bổ sung có mục tiêu tương ứng cho tỉnh Phú Thọ để thực hiện dự án mở rộng đường kết nối cầu Phong Châu đến Đường liên kết vùng (Dự án). Thời gian thực hiện và giải ngân nguồn vốn bổ sung có mục tiêu nêu trên cho Dự án đến hết ngày 31/12/2026. Trường hợp không sử dụng hết, số vốn còn lại sẽ bị hủy dự toán theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn.

Đẩy nhanh tiến độ Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam 01:06

Đẩy nhanh tiến độ Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam

Đẩy nhanh tiến độ Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam 01:06

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 68/TB-VPCP kết luận của Thường trực Chính phủ tại cuộc họp với Ban chỉ đạo các công trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt (phiên họp thứ 6). Theo Thông báo này, đối với dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam, về lựa chọn công nghệ, đối tác, Bộ Xây dựng tiếp thu đầy đủ ý kiến của Thường trực Chính phủ và các cơ quan hoàn thiện Báo cáo lựa chọn công nghệ, đối tác (Báo cáo chính, Tờ trình tóm tắt, dự thảo kết luận…), báo cáo Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ trước ngày 20 tháng 02 năm 2026 để báo cáo xin ý kiến cấp có thẩm quyền theo quy định. Phấn đấu hoàn thành việc lựa chọn tư vấn lập Báo cáo NCKT trong Quý II/2026; tiếp tục nghiên cứu đánh giá các hình thức đầu tư để lựa chọn hình thức đầu tư tối ưu, bảo đảm hài hòa lợi ích nhà nước, nhân dân và doanh nghiệp. Trong quá trình lập Dự án, tiếp tục nghiên cứu các phương thức đầu tư nhằm khuyến khích sự tham gia của các tập đoàn lớn trong nước trên tinh thần hài hòa lợi ích giữa nhà nước và doanh nghiệp.

Quý III năm 2026: Thi công một số hạng mục chính tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng 01:03

Quý III năm 2026: Thi công một số hạng mục chính tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng

Quý III năm 2026: Thi công một số hạng mục chính tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng 01:03

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 68/TB-VPCP kết luận của Thường trực Chính phủ tại cuộc họp với Ban chỉ đạo các công trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt (phiên họp thứ 6). Theo đó, đối với dự án thành phần 1 của Dự án tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng: Bộ Xây dựng tiếp tục chỉ đạo Ban Quản lý dự án, nhà thầu tập trung đẩy nhanh tiến độ triển khai thi công Dự án thành phần 1 hoàn thành đúng tiến độ. Về Dự án thành phần 2, Bộ Xây dựng chỉ đạo Ban Quản lý dự án, tư vấn hoàn thành Báo cáo nghiên cứu khả thi (NCKT) chậm nhất trong tháng 3/2026, phê duyệt dự án vào tháng 7/2026, triển khai thi công một số hạng mục chính trong Quý III năm 2026. Về đàm phán Hiệp định xây dựng cầu đường sắt qua biên giới Việt – Trung, Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao đẩy nhanh đàm phán Hiệp định trong quý I/2026. Các địa phương và EVN khẩn trương triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng và di dời hạ tầng kỹ thuật điện dự án.