In bài viết

Việt Nam mong muốn thúc đẩy hợp tác thực chất trong ASEAN

(Chinhphu.vn) - Việt Nam muốn thể hiện vai trò chủ động hơn trong định hình chương trình nghị sự của ASEAN. Việt Nam không chỉ tham gia để đồng thuận, mà còn để đóng góp sáng kiến, thúc đẩy hợp tác thực chất và cùng các nước thành viên xử lý các vấn đề khu vực đang nổi lên như Việt Nam đã thể hiện tại các Thượng đỉnh trước đây.

Việt Nam mong muốn thúc đẩy hợp tác thực chất trong ASEAN- Ảnh 1.

Chuyên gia Kinh tế ASEAN, PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng-Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu (Philippines) diễn ra ngày 7-8/5. Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam tham dự hội nghị lần này. Nhân dịp này, Báo Điện tử Chính phủ đã cuộc trao đổi cùng Chuyên gia Kinh tế ASEAN, PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng-Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam). 

ASEAN phải thể hiện được một "trung tâm về năng lực hành động"

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu (Philippines) từ ngày 7 đến 8-5 diễn ra trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp và cạnh tranh địa chính trị gay gắt. Ông đánh giá thế nào về vai trò trung tâm của ASEAN hiện nay, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng: Theo quan điểm của tôi, vai trò trung tâm của ASEAN hiện nay vẫn rất quan trọng, nhưng không nên nhìn nhận theo cách mặc nhiên. ASEAN vẫn là thể chế khu vực không thể thay thế trong các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu, song vị thế đó đang chịu sức ép lớn hơn trước rất nhiều.

Trước đây, vai trò trung tâm của ASEAN thường được hiểu là: ASEAN chủ trì được bao nhiêu hội nghị đa phương, duy trì các cơ chế đối thoại và kết nối các đối tác lớn như thế nào. Những điều này hiện nay vẫn rất cần thiết, nhưng trong bối cảnh hiện nay, thước đo quan trọng hơn là ASEAN có giữ được đoàn kết nội khối, có định hình được chương trình nghị sự khu vực và có bảo vệ được không gian tự chủ chiến lược của Đông Nam Á hay không.

Điểm mạnh của ASEAN là khả năng tạo ra một nền tảng đối thoại chung. Thông qua các cơ chế như Hội nghị Cấp cao Đông Á, Diễn đàn Khu vực ASEAN, ASEAN+3 hay ADMM +…. ASEAN giúp các nước lớn đối thoại với Đông Nam Á trong khuôn khổ đa phương, thay vì chỉ thông qua các quan hệ song phương dễ tạo sức ép bất cân xứng. Với các nước vừa và nhỏ, đây là một không gian ngoại giao rất quan trọng để mở rộng lựa chọn và hạn chế nguy cơ bị cuốn vào cạnh tranh chiến lược.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn thẳng vào những giới hạn của ASEAN. Cơ chế đồng thuận và không can thiệp giúp duy trì đoàn kết, nhưng nhiều khi làm ASEAN phản ứng chậm trước các vấn đề phức tạp như khủng hoảng Myanmar, Biển Đông, an ninh mạng, an ninh năng lượng hay bảo vệ người lao động di cư. Nói cách khác, ASEAN không thiếu diễn đàn, nhưng còn thiếu năng lực hành động đủ nhanh và đủ mạnh trong một số tình huống.

Vì vậy, theo tôi, vai trò trung tâm của ASEAN là có thật, nhưng không còn là điều tự nhiên có sẵn. ASEAN phải chứng minh vai trò đó bằng hiệu quả thực chất. Điều quan trọng là ASEAN phải thể hiện được một "trung tâm về năng lực hành động": biết xác định ưu tiên, duy trì đồng thuận trên các vấn đề cốt lõi, thúc đẩy tôn trọng luật pháp quốc tế, xử lý khủng hoảng và tạo ra lợi ích cụ thể cho người dân, doanh nghiệp và các quốc gia thành viên. Củng cố vai trò trung tâm của ASEAN gắn trực tiếp với bảo vệ lợi ích quốc gia, duy trì môi trường hòa bình, mở rộng không gian hội nhập và giảm sức ép chọn bên. Tương lai của ASEAN sẽ phụ thuộc không phải vào số lượng hội nghị, diễn đàn…mà vào khả năng duy trì cân bằng, tạo đồng thuận và giải quyết những vấn đề thực tiễn của khu vực.

Việt Nam mong muốn thúc đẩy hợp tác thực chất trong ASEAN- Ảnh 2.

Năm 2026 là năm đầu tiên ASEAN thực hiện Tầm nhìn 2045. Theo ông, Hội nghị lần thứ 48 này đóng vai trò quan trọng như thế nào cho sự phát triển của khối ASEAN trong thời gian tới, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng: Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 có ý nghĩa quan trọng vì diễn ra ở thời điểm mở đầu một chu kỳ phát triển mới của ASEAN. Sau 10 năm kể từ khi xây dựng thành công Cộng đồng, năm 2026 là năm đầu tiên ASEAN triển khai Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045 cùng các kế hoạch chiến lược trên các trụ cột chính trị - an ninh, kinh tế, văn hóa - xã hội và kết nối. Vì vậy, Cấp cao Cebu không chỉ là một cuộc họp thường kỳ, mà là phép thử đối với khả năng chuyển hóa tầm nhìn dài hạn thành ưu tiên chính sách và cơ chế thực thi cụ thể.

Vì vậy, tôi cho rằng ý nghĩa lớn nhất của Hội nghị Cebu nằm ở ba điểm sau:

Thứ nhất, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 góp phần xác định các mốc triển khai Tầm nhìn 2045. Một tầm nhìn dài hạn chỉ có ý nghĩa khi được cụ thể hóa bằng các ưu tiên rõ ràng, lộ trình khả thi và cơ chế giám sát đáng tin cậy. Nếu ASEAN khởi đầu giai đoạn mới bằng những cam kết chung chung, thiếu thứ tự ưu tiên và kỷ luật thực thi, Tầm nhìn 2045 dễ dừng lại ở một văn kiện định hướng thay vì một chương trình hành động thực chất. Ngược lại, nếu Hội nghị xác lập được các ưu tiên then chốt như tự cường khu vực, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, ổn định chuỗi cung ứng và nâng cao hiệu quả thể chế,… thì đây sẽ là bước khởi động có ý nghĩa thực chất đối việc việc thực tiện Tầm nhận 2045.

Thứ hai, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 diễn ra trong bối cảnh môi trường phát triển của ASEAN khó khăn hơn nhiều so với các giai đoạn trước. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt hơn; chủ nghĩa bảo hộ gia tăng; chuỗi cung ứng dịch chuyển; xung đột ngoài khu vực, biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng và an ninh lương thực đều tạo sức ép trực tiếp lên Đông Nam Á. Điều đó cho thấy sự phát triển của ASEAN trong giai đoạn tới không thể chỉ được đo bằng tăng trưởng kinh tế, mà phải được đánh giá bằng năng lực chống chịu, khả năng thích ứng và mức độ duy trì tự chủ chiến lược của khu vực.

Thứ ba, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 là phép thử về năng lực thực thi của ASEAN. ASEAN không thiếu các tuyên bố, kế hoạch hay sáng kiến. Điểm yếu cố hữu là khoảng cách giữa cam kết và triển khai, nhất là khi các nước thành viên khác nhau về trình độ phát triển, thể chế, năng lực quản trị và lợi ích chiến lược. Một ASEAN lớn hơn có thể có tính đại diện cao hơn, nhưng cũng đòi hỏi năng lực điều phối và thu hẹp khoảng cách phát triển hiệu quả hơn.

Vì vậy, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 không tự nó quyết định tương lai của ASEAN, nhưng có thể tạo hướng đi cho giai đoạn hậu 2025. Thành công của Hội nghị không nên đo bằng số lượng văn kiện được thông qua, mà bằng việc ASEAN có xác định được ưu tiên chiến lược, cơ chế thực hiện và cam kết chính trị đủ mạnh hay không. Nếu làm được điều đó, Cebu có thể trở thành điểm khởi đầu quan trọng để Tầm nhìn 2045 đi vào thực chất; nếu không, nguy cơ lớn nhất là ASEAN tiếp tục có tầm nhìn rộng nhưng năng lực triển khai không theo kịp tham vọng của mình.

Việt Nam sẽ có đóng góp tích cực cho cả ba ưu tiên 

Hội nghị xác định 3 ưu tiên chính là an ninh năng lượng, lương thực và bảo hộ công dân. Theo ông, Việt Nam có thể đóng góp kinh nghiệm gì đối với những lĩnh vực này, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng: Tôi cho rằng, Việt Nam có thể có đóng góp tích cực cho cả ba ưu tiên trên xuất phát từ chính kinh nghiệm quản trị trong điều kiện chịu nhiều sức ép thực tế của mình. Điểm đáng chú ý không phải là Việt Nam đã giải quyết hoàn hảo các vấn đề này, mà là đã tích lũy được những bài học có giá trị trong xử lý thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường, áp lực chuyển đổi năng lượng và bảo hộ công dân ở nước ngoài.

Đóng góp lớn nhất của Việt Nam sẽ là cách tiếp cận dựa trên năng lực chống chịu: chuẩn bị sớm, phối hợp liên ngành, đa dạng hóa đối tác, bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương và xử lý khủng hoảng bằng các cơ chế thực tiễn thay vì chỉ bằng các tuyên bố chính sách.
PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng

Về an ninh năng lượng, kinh nghiệm quan trọng của Việt Nam là nỗ lực cân bằng giữa bảo đảm nguồn cung cho tăng trưởng, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu/hóa thạch và từng bước chuyển sang năng lượng sạch hơn. Với một nền kinh tế công nghiệp hóa nhanh, đây là bài toán rất khó. Từ thực tiễn Việt Nam có thể rút ra điểm then chốt: an ninh năng lượng không chỉ là bảo đảm đủ than, dầu, khí hay điện, mà còn bao gồm khả năng vận hành ổn định hệ thống điện, tích hợp năng lượng tái tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, huy động tài chính chuyển đổi và mở rộng kết nối năng lượng khu vực. Kinh nghiệm của Việt Nam cũng cho thấy chuyển đổi năng lượng nếu chỉ tập trung vào tăng công suất nguồn mà không đi cùng nâng cấp lưới điện, cơ chế giá và năng lực điều phối thì rất dễ tạo ra điểm nghẽn mới.

Về an ninh lương thực, Việt Nam có lợi thế rõ hơn. Là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu của thế giới, Việt Nam có kinh nghiệm trong việc vừa bảo đảm ổn định lương thực trong nước, vừa tham gia thị trường khu vực và toàn cầu. Đóng góp của Việt Nam vì vậy không chỉ nằm ở sản lượng xuất khẩu, mà ở kinh nghiệm quản trị chuỗi lương thực trong điều kiện bất định: tổ chức sản xuất, duy trì sinh kế nông dân, kiểm soát logistics, điều tiết xuất khẩu, theo dõi thị trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Bài học từ Việt Nam cho thấy ASEAN cần phối hợp tốt hơn giữa nước sản xuất và nước nhập khẩu, tránh phản ứng cực đoan như hạn chế xuất khẩu khi thị trường biến động, đồng thời gắn an ninh lương thực với chuyển đổi nông nghiệp bền vững, nhất là ở các vùng dễ tổn thương.

Về bảo hộ công dân, Việt Nam có thể chia sẻ kinh nghiệm trong bảo hộ lãnh sự, khủng hoảng truyền thông, duy trì đường dây nóng, phối hợp với nước sở tại và chuẩn bị phương án sơ tán khi xảy ra dịch bệnh, xung đột hoặc thiên tai. Đây là vấn đề ngày càng quan trọng vì công dân ASEAN di chuyển nhiều hơn, từ lao động di cư, du học sinh, khách du lịch đến thuyền viên và doanh nhân.

Vì vậy, tôi cho rằng đóng góp lớn nhất của Việt Nam sẽ là cách tiếp cận dựa trên năng lực chống chịu: chuẩn bị sớm, phối hợp liên ngành, đa dạng hóa đối tác, bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương và xử lý khủng hoảng bằng các cơ chế thực tiễn thay vì chỉ bằng các tuyên bố chính sách.

Việt Nam mong muốn thúc đẩy hợp tác thực chất trong ASEAN- Ảnh 3.

Việt Nam tiếp tục đặt ASEAN ở vị trí ưu tiên trong chính sách đối ngoại đa phương

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng sẽ dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam tham dự hội nghị lần này. Theo ông, thông điệp xuyên suốt mà Việt Nam muốn gửi tới bạn bè quốc tế thông qua chuyến đi này là gì và chúng ta kỳ vọng như thế nào về kết quả Hội nghị,thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng: Việc xác định đầy đủ thông điệp của Việt Nam tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 không đơn giản, nhưng qua các phát biểu và thông tin chính thức trong nước, có thể thấy sự hiện diện của Thủ tướng Lê Minh Hưng gửi đi một tín hiệu khá rõ: Việt Nam coi ASEAN là không gian chiến lược trực tiếp, chứ không chỉ là một kênh hợp tác khu vực thông thường.

Đây cũng là chuyến công du nước ngoài đầu tiên của Thủ tướng trên cương vị người đứng đầu Chính phủ, nên việc lựa chọn ASEAN làm điểm đến có ý nghĩa chính trị và đối ngoại đáng chú ý. Điều đó cho thấy Việt Nam tiếp tục đặt ASEAN ở vị trí ưu tiên trong chính sách đối ngoại đa phương; đồng thời khẳng định rằng an ninh, phát triển, hội nhập và vị thế quốc tế của Việt Nam gắn rất chặt với sự ổn định, đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN.

Việt Nam không chỉ tham gia để đồng thuận, mà còn để đóng góp sáng kiến, thúc đẩy hợp tác thực chất và cùng các nước thành viên xử lý các vấn đề khu vực đang nổi lên như Việt Nam đã thể hiện tại các Thượng đỉnh trước đây.
PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng

Vì vậy, tôi cho rằng thông điệp bao trùm của Việt Nam có thể nhìn ở ba điểm chính sau:

Trước hết, Việt Nam khẳng định cam kết đối với đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN. Trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn, xung đột toàn cầu, căng thẳng trên biển, phân mảnh chuỗi cung ứng và bất định thương mại gia tăng, ASEAN cần tránh bị biến thành không gian cạnh tranh thụ động của các cường quốc. Việt Nam ủng hộ một ASEAN có khả năng duy trì đối thoại, thiết lập chương trình nghị sự và bảo vệ các nguyên tắc chung, nhất là thượng tôn luật pháp quốc tế và giải quyết hòa bình các tranh chấp.

Thứ hai, Việt Nam muốn nhấn mạnh hướng tiếp cận thực chất, lấy khả năng chống chịu và lợi ích của người dân làm trọng tâm. Các ưu tiên của Hội nghị như an ninh năng lượng, an ninh lương thực và bảo hộ công dân không phải là vấn đề kỹ thuật thuần túy, mà là những thách thức trực tiếp đối với ổn định xã hội, sinh kế và an ninh con người. Vì vậy, hợp tác ASEAN cần đi gần hơn với các nhu cầu thực tế: nguồn cung năng lượng ổn định, lương thực an toàn và hợp lý, bảo hộ lao động di cư, bảo hộ lãnh sự và phối hợp ứng phó khi có khủng hoảng.

Thứ ba, Việt Nam muốn thể hiện vai trò chủ động hơn trong định hình chương trình nghị sự của ASEAN. Việt Nam không chỉ tham gia để đồng thuận, mà còn để đóng góp sáng kiến, thúc đẩy hợp tác thực chất và cùng các nước thành viên xử lý các vấn đề khu vực đang nổi lên như Việt Nam đã thể hiện tại các Thượng đỉnh trước đây.

Về kỳ vọng, tôi nghĩ rằng, Việt Nam không đặt ra mục tiêu cụ thể rằng Hội nghị lần này có thể giải quyết ngay mọi vấn đề. Điều quan trọng hơn là nó tạo được đồng thuận rõ hơn về triển khai Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045, nhất là trong các lĩnh vực kết nối, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, an ninh năng lượng, an ninh lương thực và ứng phó khủng hoảng. Một kết quả tốt là ASEAN củng cố được niềm tin nội khối, giữ được tiếng nói cân bằng về hòa bình, ổn định, tuân thủ luật pháp quốc tế và chuyển các cam kết dài hạn thành hợp tác cụ thể, có tác động thực tế đến người dân và nền kinh tế khu vực.

Kiều Liên (thực hiện)