Việt Nam đang hội tụ đủ thế và lực để bước vào kỷ nguyên vươn mình, khát vọng kiến tạo một thế hệ doanh nghiệp mang sứ mệnh đưa đất nước thành cường quốc trở nên rất quan trọng. GS. Trần Văn Thọ - Giáo sư danh dự Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản, chia sẻ chìa khóa làm nên thành công của Honda, Toyota của Nhật Bản hay Hyundai, Samsung của Hàn Quốc, từ đó chỉ ra con đường bứt phá cho doanh nghiệp Việt Nam trong thập kỷ quyết định sắp tới.
Sau nhiều năm sinh sống và nghiên cứu về kinh tế Đông Á, đặc biệt là Nhật Bản, khi lý giải về sự trỗi dậy của quốc gia này thời hậu chiến, ông thường nhắc đến câu chuyện của Tập đoàn Sony. Vì sao câu chuyện này lại gây ấn tượng với ông đến vậy?
Kinh tế Nhật Bản có 18 năm phát triển thần kỳ nhờ vai trò của nhà nước, nhà quản lý, trí thức và đặc biệt là khu vực doanh nghiệp.
Lấy trường hợp Sony là một ví dụ điển hình. Trong buổi lễ thành lập công ty vào năm 1946, Ibuka Masaru, người đồng sáng lập công ty, đã nói: “Chúng ta phải dùng công nghệ để phục hưng Tổ quốc”. Giữa cảnh hoang tàn đổ nát sau chiến tranh, thái độ của những người có trách nhiệm trong xã hội đã gây phấn chấn và kích thích mọi người hăng hái tham gia vào việc phục hưng đất nước.
Với năng lực xã hội như thế, Nhật Bản đã theo kịp các nước Âu Mỹ. Thật ra thời trước Thế chiến thứ hai, Nhật đã theo kịp Tây phương trong một số ngành, lĩnh vực, nhưng phải đợi đến thập niên 1960, 1970, bằng một giai đoạn phát triển cao độ, Nhật Bản mới hoàn toàn theo kịp Âu Mỹ.
Vậy động cơ cống hiến ban đầu mới là điều định hình nên một doanh nghiệp. Giáo sư thường dùng khái niệm "tinh thần doanh nghiệp" để nói về điều này. Vậy ở những quốc gia đi sau như Việt Nam, tinh thần ấy có gì khác biệt?
Tinh thần doanh nghiệp là tính tiến thủ của nhà doanh nghiệp, không bằng lòng với hoàn cảnh đương có mà xông xáo tìm kiếm và nắm bắt cho bằng được các cơ hội do công nghệ và thị trường mang lại. Người có tinh thần doanh nghiệp có con mắt nhìn xa trông rộng vào thế giới trong tương lai, giàu trí tưởng tượng về thành quả của công nghệ, biết là sẽ có nhiều bất định và rủi ro nhưng vẫn quyết đoán và đi tới hành động đầu tư, phối trí nhân lực và các nguồn lực kinh tế khác vào lĩnh vực mới vừa khám phá được.
Người có tinh thần doanh nghiệp cần có chí lớn, tinh thần mạo hiểm, tinh thần tự lập và đạo đức kinh doanh trong kinh tế thị trường.
Nhưng với những nước đi sau nỗ lực đuổi kịp nước đi trước, tinh thần doanh nghiệp còn thêm tinh thần dân tộc. Có tinh thần dân tộc thì đóng góp cho đất nước trở nên cao cả, hiệu quả và được người đời trân trọng. Theo tôi, các nước như Nhật Bản, điểm chung của những doanh nghiệp như Honda, Sony, Toyota khởi đầu bằng mong muốn xây dựng đất nước chứ không phải tìm lợi ích riêng. Doanh nghiệp thành công, có lợi nhuận, người sáng lập giàu có, có địa vị xã hội, nhưng đó chỉ là kết quả.
Có tinh thần dân tộc là một lý tưởng cao đẹp nhưng thực tế thị trường lại rất khắc nghiệt. Việc tạo ra giá trị thực sự thông qua đầu tư vào công nghiệp - công nghệ khiến nhiều doanh nghiệp e ngại vì rủi ro cao và rất lâu mới có lời. Vậy điều gì đã khiến nhiều doanh nghiệp ở Đông Á dám lao vào con đường này ?
Thường để đầu tư vào công nghiệp, kỹ thuật thì rủi ro cao và lợi ích trường kỳ chứ trước mắt khó có lời. Ví dụ đầu tư vào ngành công nghiệp ô tô thường mất 5-7 năm lỗ, năm thứ 8 trở đi mới lời, Hyundai của Hàn Quốc cũng vậy. Nếu để doanh nghiệp tự do đầu tư thì họ vào bất động sản hay chứng khoán, thấy cái gì có lợi trước thì họ đầu tư. Lãi suất ngân hàng ở các nước đi sau thường cao, vay lãi suất cao mà đầu tư lâu dài rủi ro cao thì người ta ngại.
Đó là sự thất bại của thị trường, và nhà nước phải có vai trò. Ở Hàn Quốc, thời Tổng thống Park Chung-hee biết được điều đó và tìm cách giúp những doanh nghiệp tiềm năng bằng cách cho vay vốn ưu đãi, lãi suất thấp, khuyến khích dùng ngoại tệ hiếm hoi để nhập máy móc. Hyundai hay Samsung lúc đầu cũng do nhà nước nâng đỡ như vậy để đầu tư vào công nghiệp.
Nhưng cách này cũng phải khôn khéo, chứ đưa tiền cho doanh nghiệp mà đầu tư thất bại thì mất tiền nhà nước. Bí quyết của Hàn Quốc là họ gắn kết với kết quả, ví dụ như xuất khẩu, phải cạnh tranh mới xuất khẩu được; muốn cạnh tranh phải đầu tư, cải tiến, quản lý giỏi. Nhà nước không để doanh nghiệp tự do dùng nguồn lực lãng phí, mà gắn kết vào thành quả. Nhật Bản cũng có cơ quan cung cấp ngoại tệ, tiền tệ, vốn lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư vào hướng nhà nước phác họa ra.
Về tố chất doanh nghiệp chân chính, có hai khái niệm: "profit-seeking" và "rent-seeking". Ở những nước phát triển thành công, doanh nghiệp là "profit-seeking" - đi tìm kiếm lợi nhuận chân chính bằng năng lực kinh doanh. Ngược lại, ở những nước thất bại, doanh nghiệp cấu kết để tìm lợi ích đặc biệt, trường hợp cho hành trình 20 năm đó gọi là "rent-seeking" (tìm kiếm đặc lợi). Doanh nghiệp kiến quốc trước hết phải có tinh thần dân tộc, và thứ hai là tìm kiếm lợi nhuận chính đáng chứ không mưu tìm đặc lợi.
Động cơ trong sạch là điều quan trọng nhưng một doanh nghiệp vẫn phải tồn tại và đối mặt với thách thức lớn về chuyển giao thế hệ. Một doanh nghiệp kiến quốc làm thế nào để vượt qua điều này?
Nói chung, những công ty muốn phát triển thì dần dần phải minh bạch hóa. Ngay cả những công ty gia đình ở Nhật Bản như Toyota, xuất phát điểm là công ty gia đình nhưng bây giờ họ đã đứng hàng đầu nước Nhật. Khi lập ra, gia đình sáng lập cũng muốn con cháu mình kế nghiệp lãnh đạo nhưng nguyên tắc là công ty phải phát triển, nếu để con cháu nắm quyền mà công ty đi xuống, sụp đổ thì không được.
Khi thế hệ sau chưa đủ khả năng, họ sẵn sàng mời người ngoài tới lãnh đạo chứ không giữ khư khư quyền lực cho con cháu. Trong lịch sử khoảng 100 năm của Toyota, cũng đã có 3-4 đời Tổng giám đốc là người ngoài gia tộc. Dần dần, dù là công ty gia đình nhưng khi đã lên sàn chứng khoán, gia đình sáng lập chỉ nắm giữ một phần cổ phiếu chứ không còn chiếm đa số nữa. Lúc đó công ty đã được đại chúng hóa, trở thành tài sản của đại chúng chứ không còn là của riêng họ nữa.
Ngược lại, nếu không minh bạch thì không thể phát triển lâu dài. Doanh nghiệp kiến quốc thì phải minh bạch và tiên tiến. Khi công ty minh bạch, người dân mới coi đó là công ty vì dân tộc. Còn nếu công ty cứ khép kín, thông tin không minh bạch thì xã hội sẽ ít tôn trọng, đó chỉ là công ty của riêng họ, sự thành bại sau này dân chúng cũng không quan tâm.
Để giải quyết bài toán "giá trị gia tăng mỏng" và chấm dứt gia công lắp ráp, sự vươn lên của một vài tập đoàn lớn là chưa đủ. Sự liên kết giữa các tập đoàn lớn với hàng vạn doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mang ý nghĩa ra sao trong việc tạo ra một nền công nghiệp có chiều sâu và làm chủ chuỗi cung ứng?
Hiện tỉ lệ công nghiệp hóa của Việt Nam vẫn thấp và chất lượng công nghiệp hóa vẫn chưa cao, chủ yếu nằm ở khâu gia công, lắp ráp.
Đầu tiên là bài toán thoát bẫy gia công, câu chuyện Hyundai rất đáng để suy ngẫm, cho thấy thế nào là tích lũy nội lực để dần thay thế ngoại lực. Hyundai thành lập năm 1967, lúc đầu du nhập công nghệ từ Ford và nhập gần như toàn bộ linh kiện về để lắp ráp, không khác gì gia công. Nhưng họ không dừng ở đó. Đến năm 1974, họ bắt đầu chuẩn bị thương hiệu riêng: mua thiết kế mẫu mã của Italy, mua đầu máy và hộp số của Nhật, nhưng thân xe và nhiều bộ phận khác thì tự thiết kế, tự sản xuất. Chiếc Pony ra đời từ đó, và chỉ hai năm sau họ đã xuất khẩu sang Trung Đông, Mỹ Latin.
Từ thập niên 1990, Hyundai tự làm lấy đầu máy và hộp số, những bộ phận hàm lượng công nghệ cao nhất rồi lập các cứ điểm nghiên cứu ở Mỹ, Nhật, Đức. Nhờ kiên trì cải tiến, sang những năm 2000 họ xóa được cái mác “giá rẻ nhưng chất lượng thấp”, lọt vào hàng những hãng xe có độ tin cậy cao nhất thế giới. Đó là một quá trình đi từ lắp ráp lên làm chủ công nghệ, củng cố nội lực từng bước. Việt Nam bây giờ phần lớn vẫn ở chặng đầu của con đường ấy và bài học là không được dừng lại ở chặng lắp ráp.
Và quan trọng hơn là phải kết nối doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp SME, kết nối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với doanh nghiệp SME. Làm được như vậy mới đạt hiệu quả, mới tạo ra sức lan tỏa về tri thức kinh doanh cũng như công nghệ từ doanh nghiệp tiên tiến sang doanh nghiệp SME.
Khi phân tích kinh nghiệm của Nhật Bản về cách doanh nghiệp lớn liên kết với doanh nghiệp nhỏ, có hai trường hợp: một là liên kết qua các chính sách cụ thể của Chính phủ để thúc đẩy; hai là liên kết qua cơ chế thị trường. Qua cơ chế thị trường nghĩa là họ tự tìm đến nhau. Doanh nghiệp lớn có nhu cầu chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp SME, để các công ty này sản xuất sản phẩm trung gian, phụ trợ, cung cấp nguyên liệu tạo nên thành phẩm cuối cùng. Thay vì nhập khẩu, họ ưu tiên mua trong nước.
Nhưng để cơ chế thị trường này vận hành hiệu quả, để doanh nghiệp lớn và nhỏ tự tìm đến nhau, bản thân các doanh nghiệp SME cũng phải mạnh lên. Phải đủ năng lực cung ứng được tiêu chuẩn của doanh nghiệp lớn thì họ mới hợp tác với mình.
Đúc kết lại, một doanh nghiệp kiến quốc trong kỷ nguyên vươn mình của Việt Nam cần hội tụ những yếu tố nào?
Trước hết, mình hiểu rõ về tinh thần doanh nghiệp, ngoài ý nghĩa thông thường, trong đó còn có thêm tinh thần dân tộc. Doanh nghiệp kiến quốc nghĩa là doanh nghiệp có hoài bão, mong muốn thấy đất nước phát triển, và họ hãnh diện, tự hào khi bản thân có vai trò đóng góp làm cho đất nước phát triển. Và nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng. Họ luôn đồng hành với Chính phủ với sứ mạng tận hiến vì một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.
Thấy đất nước phát triển thì mình mới hạnh phúc đúng không? Và mình sẽ còn hạnh phúc hơn khi thấy mình có vai trò trong đó. Mình nghĩ doanh nghiệp phải có tinh thần dân tộc thì mới đáp ứng một trong những điều kiện để trở thành doanh nghiệp kiến quốc. Đó là điểm thứ nhất.
Thứ hai là phải tránh mưu tìm đặc lợi. Doanh nghiệp chỉ nên mưu tìm lợi nhuận chân chính, đồng hành cùng đất nước. Đất nước phát triển thì mình cũng từ đó có lợi ích nhờ những đóng góp của mình. Theo kinh nghiệm các nước Đông Á, họ khởi đầu bằng hoài bão đóng góp cho đất nước, sau khi thành công, họ mới hưởng lợi ích từ hoạt động của mình./.