BÀI 2: Sinh kế không thể đứng ngoài thị trường
(Chinhphu.vn) - Muốn việc làm bền vững, đào tạo nghề phải nối được với doanh nghiệp, hợp tác xã, thị trường và chuỗi giá trị, để kỹ năng của người lao động chuyển hóa thành sản phẩm có đầu ra và thu nhập ổn định.
Với nhiều lao động dân tộc thiểu số (DTTS), rời quê đi làm ăn xa không phải lựa chọn mới. Đáng chú ý, ngay cả những người có điều kiện sản xuất tại quê nhà vẫn có thể rời đi khi thu nhập từ sản xuất nhỏ lẻ thấp, cơ hội việc làm hạn chế.
Gia đình anh Hà Xuân Huy là một hộ có kinh tế trung bình ở thôn Phú Lương, xã Tân Sơn (Phú Thọ). Gia đình có hơn 2 ha rừng keo và 4 sào ruộng nhưng vợ chồng anh vẫn rời quê tìm việc.
Theo anh Huy, nếu chỉ dựa vào nghề nông thì khó thoát nghèo nên vợ chồng nhờ ông bà trông cháu, ra Hà Nội mưu sinh. Làm thợ xây, công việc nặng nhọc nhưng mỗi tháng vợ chồng anh cũng dành dụm được hơn chục triệu đồng.
Rời quê có thể mở ra cơ hội tăng thu nhập, nhưng cũng đi kèm những rủi ro. Trong nhiều trường hợp, lao động tự do ở thành thị thiếu hợp đồng, bảo hiểm và thu nhập ổn định; khi ốm đau, tai nạn hoặc mất việc, người lao động dễ rơi vào thế bị động; với gia đình có con nhỏ, việc cha mẹ xa quê còn tạo thêm áp lực chăm sóc, nuôi dạy con.






Các mô hình, dự án phát triển sản xuất và chăn nuôi đang được triển khai tại một số thôn trên địa bàn xã Tân Sơn (Phú Thọ)
Sự dịch chuyển lao động cũng để lại những khoảng trống nhất định tại cộng đồng. Không ít bản làng vùng cao thiếu lực lượng thanh niên tham gia các công việc chung.
Tháng 3/2026, xã Ngọc Đường (Tuyên Quang) khởi công tuyến đường khoảng 1,4km vào thôn Khuổi Trông. Công trình có kinh phí 600 triệu đồng từ nguồn xã hội hóa, cùng đóng góp ngày công của nhân dân.
Theo Chủ tịch UBND xã Ngọc Đường Nguyễn Mạnh Thắng, dự kiến công trình hoàn thành sau khoảng 2 tháng. Tuy nhiên, do phần lớn thanh niên trên địa bàn đi làm ăn xa, lực lượng tham gia thi công chủ yếu là người từ 50 tuổi trở lên, nên để hoàn thành tuyến đường, nhân dân phải đóng góp gần 1.000 ngày công.
Tại Tuyên Quang, tình trạng thiếu lực lượng thanh niên cũng hiện hữu ở nhiều địa phương. Theo số liệu của Tỉnh đoàn, tại xã Khuôn Lùng, 63% thanh niên đi học, đi làm xa; tỷ lệ này ở xã Đường Hồng là 57,8%, xã Hoàng Su Phì là 55,3%...
Những con số trên cho thấy bài toán không đơn giản là "giữ chân" lao động ở quê mà quan trọng hơn là tạo ra lựa chọn sinh kế đủ sức cạnh tranh với việc làm ngoài địa phương. Khi phải rời quê, người lao động cũng cần được tiếp cận các kênh việc làm chính thức, thông tin minh bạch và cơ chế bảo vệ quyền lợi.
Đây cũng là yêu cầu được đặt ra trong Thông báo số 123-TB/VPTW khi nhấn mạnh việc mở rộng kết nối thị trường, dịch vụ việc làm cho lao động vùng đồng bào DTTS và miền núi; tổ chức kết nối việc làm an toàn, hạn chế di cư tự do, lao động bấp bênh, bị lợi dụng, lừa đảo.
Nếu rời quê là một lựa chọn để tìm kiếm thu nhập, thì tạo việc làm tại chỗ chỉ bền vững khi những nguồn lực sẵn có của địa phương được kết nối với thị trường.
Thực tế ở nhiều vùng đồng bào DTTS cho thấy khoảng cách này còn lớn, người dân có sản phẩm nhưng thiếu thông tin về nhu cầu, có kỹ năng nhưng thiếu nơi sử dụng, có đất và tài nguyên nhưng thiếu vốn, công nghệ và doanh nghiệp liên kết.
Tại buổi làm việc với Bộ Nội vụ ngày 8/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh vai trò hỗ trợ của Nhà nước về hạ tầng, tín dụng, thông tin, đào tạo, tư vấn pháp luật; đồng thời yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất tham gia liên kết, bao tiêu, hướng dẫn kỹ thuật, xây dựng thương hiệu và tiêu chuẩn sản phẩm. Định hướng này cho thấy một chuyển động quan trọng: đưa người lao động từ vị trí nhận hỗ trợ vào trong chuỗi tạo ra giá trị.






Nông sản sạch Vân Hồ - thành quả lao động của đồng bào dân tộc thiểu số giữa núi rừng Sơn La
Tháng 3/2023, Hợp tác xã (HTX) Vân Hồ Retreat được thành lập tại xã Vân Hồ (Sơn La), ban đầu liên kết với 7 hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) có đất sản xuất và thành viên trong độ tuổi lao động từ 30-50 tuổi.
Sau 3 năm, mô hình đã mở rộng thêm khoảng 15 hộ DTTS, chủ yếu là đồng bào Mông và Mường; mỗi năm cung cấp khoảng 100 tấn rau, củ, quả an toàn đến các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Nghệ An, Hải Phòng…; đồng thời tạo việc làm cho hàng chục lao động DTTS với thu nhập bình quân 9-10 triệu đồng/người/tháng.
Chia sẻ với Báo Điện tử Chính phủ, anh Vừ Pát Ly, Giám đốc HTX cho biết, ngay từ khi thành lập, HTX đã vận hành chuỗi hoạt động từ sản xuất, đóng gói đến dịch vụ du lịch, bán hàng trực tuyến. Trong đó, lao động không chỉ làm nông nghiệp: người phụ trách kỹ thuật sản xuất phân vi sinh, người phân loại và đóng gói nông sản, người vận hành quản lý bán hàng trên các nền tảng số, người livestream, hướng dẫn viên du lịch...
Hằng năm, người lao động còn được tham gia các khóa đào tạo nghề do địa phương tổ chức, qua đó từng bước nâng cao kỹ năng, đáp ứng yêu cầu của mô hình sản xuất, kinh doanh gắn với du lịch và chuyển đổi số.
Từ mô hình trên cho thấy, một sản phẩm không chỉ tạo ra một việc làm. Khi đi qua cả chuỗi giá trị, nó có thể tạo thêm nhiều công việc ở các khâu kỹ thuật, sơ chế, đóng gói, bán hàng, dịch vụ và tiếp thị.
Đây cũng là khoảng trống cần được tính đến trong chính sách hỗ trợ sản xuất. Nếu hỗ trợ chỉ dừng ở giống, vốn, thiết bị hoặc một khóa đào tạo, người dân có thể tạo ra sản phẩm nhưng chưa chắc bán được sản phẩm; ngược lại, nếu doanh nghiệp chỉ tham gia ở khâu tiêu thụ cuối cùng, liên kết cũng khó bền vững.
Vì vậy, hỗ trợ sản xuất cần được thiết kế theo chuỗi giá trị ngay từ đầu. Người dân cung cấp đất đai, lao động, tri thức và nguyên liệu bản địa; HTX tổ chức sản xuất; doanh nghiệp đưa công nghệ, tiêu chuẩn, chế biến và thị trường vào chuỗi; cơ sở đào tạo cung cấp kỹ năng; Nhà nước tạo môi trường về hạ tầng, tín dụng, thông tin và chính sách.
Trong Kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 123-TB/VPTW (được phê duyệt tại Quyết định số 1538/QĐ-TTg ngày 12/8/2026), Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Dân tộc và Tôn giáo rà soát, đề xuất chính sách đặc thù, lồng ghép các nhiệm vụ tạo việc làm bền vững, đào tạo gắn với sinh kế, thông tin thị trường lao động và dịch vụ việc làm cho lao động vùng đồng bào DTTS vào các chương trình, chính sách có liên quan; ưu tiên các ngành, nghề phù hợp với điều kiện từng vùng, dân tộc và cộng đồng như nông nghiệp đặc sản, kinh tế rừng, dược liệu, nghề thủ công truyền thống, du lịch cộng đồng, dịch vụ biên mậu và sản phẩm địa phương.
Một sinh kế bền vững không nhất thiết bắt đầu bằng một nghề hoàn toàn mới. Nhiều cơ hội nằm ngay trong những gì cộng đồng đang có nhưng chưa tạo được giá trị tương xứng.
Đất đai, rừng, sản vật, nghề truyền thống, cảnh quan, văn hóa và tri thức bản địa chỉ thực sự trở thành nguồn sinh kế khi được kết nối với kỹ năng, công nghệ và thị trường. Khi đó, lợi thế của địa phương không còn chỉ là nguồn lực tự nhiên mà trở thành nguồn lực tạo việc làm và thu nhập.
Qua trao đổi với Báo Điện tử Chính phủ, ông Nguyễn Xuân Hồng, Bí thư Đảng ủy xã Tà Xùa (Sơn La), cho biết Tà Xùa vừa được World Travel Awards vinh danh Điểm đến du lịch mới nổi hàng đầu châu Á năm 2026.
Danh hiệu này mở thêm dư địa để du lịch trở thành động lực nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân trên địa bàn.
Xã hiện có 13 bản, hơn 11.000 nhân khẩu, đồng bào Mông chiếm trên 90%. Địa phương đang định hướng gắn phát triển du lịch với nông nghiệp đặc sản, văn hóa bản địa và các sản phẩm đặc trưng, qua đó nâng giá trị nông sản, tạo thêm việc làm và nguồn thu ngay tại cộng đồng.
Người dân được khuyến khích tham gia vào chuỗi dịch vụ du lịch phù hợp với điều kiện thực tế, từ lưu trú cộng đồng, ăn uống, trải nghiệm văn hóa đến giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm địa phương. Cùng với đó là đào tạo kỹ năng, nâng chất lượng phục vụ để người dân từng bước chuyển từ tham gia nhỏ lẻ sang chủ động nắm bắt cơ hội thị trường.
Tà Xùa (Sơn La) vừa được World Travel Awards vinh danh Điểm đến du lịch mới nổi hàng đầu châu Á năm 2026
Định hướng này phù hợp với yêu cầu tại Quyết định số 1538/QĐ-TTg ngày 12/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tạo việc làm bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, gắn phát huy nội lực với giảm nghèo bền vững, giữ gìn bản sắc văn hóa; đồng thời mở rộng kênh tạo việc làm, nâng kỹ năng và kết nối cung - cầu lao động.
Thực tiễn ở Tà Xùa có thể thấy, sinh kế bền vững phải được đặt trong quan hệ trực tiếp với thị trường. Thị trường không chỉ là nơi tiêu thụ nông sản hay dịch vụ, mà còn là nơi mở ra việc làm, thu nhập và cơ hội phát triển.
Khơi dậy nội lực không có nghĩa là giữ người lao động ở lại quê nhà bằng mọi giá. Điều quan trọng là tạo thêm lựa chọn: có thể làm việc tại chỗ khi thị trường mở ra cơ hội, hoặc đi làm xa qua những kênh việc làm an toàn, minh bạch, bảo đảm quyền lợi. Khi ấy, người lao động không còn là đối tượng thụ hưởng chính sách, mà trở thành chủ thể chủ động lựa chọn sinh kế và tham gia thị trường.
Bài 3: Sinh kế từ lợi thế, sức mạnh từ cộng đồng
Sơn Hào