(Chinhphu.vn) - Nhiều người thừa nhận mạng xã hội có thể được xem như một dạng “ma túy kỹ thuật số”, đang làm thay đổi các chất dẫn truyền thần kinh và thúc đẩy xu hướng học nhanh, học nông thay vì đào sâu tri thức. Đồng thời, các nguy cơ như bắt nạt trực tuyến, lộ lọt “dấu chân số” từ sớm, tiếp cận thông tin lừa đảo, nội dung tiêu cực hoặc đồi trụy không phù hợp với lứa tuổi là hoàn toàn có thật.
Những con số thống kê từ Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an cung cấp cho Báo Điện tử Chính phủ về việc trẻ em đang đối mặt với rất đa dạng các nguy cơ trên không gian mạng khiến chúng ta phải "giật mình".
Phổ biến nhất là các nội dung độc hại, phản cảm, không phù hợp lan truyền trên không gian mạng. Thông tin xấu, độc tác động có tính "thẩm thấu", gây hệ lụy lâu dài, ghê gớm đến tư tưởng, nhận thức và hành vi của thế hệ trẻ.
Tháng 11/2025, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã phối hợp Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam lấy ý kiến 2.775 trẻ em tại 16 tỉnh, thành phố về vấn đề bảo vệ trẻ em trên không gian mạng, trong đó, hơn 53% trẻ em được khảo sát cho biết đã từng gặp phải các loại thông tin độc hại; khoảng 40% trẻ em cho biết từng bị đe dọa, xúc phạm trên mạng, lừa đảo trực tuyến và "bắt cóc online". Bên cạnh đó, hoạt động trên không gian mạng, trẻ em có nguy cơ bị dụ dỗ, xâm hại tình dục (trình diễn khiêu dâm qua mạng hoặc gặp gỡ để quan hệ tình dục); bị thu thập, sử dụng trái phép hình ảnh, thông tin cá nhân vào mục đích vi phạm pháp luật; bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản; bị dụ dỗ, tác động, thúc đẩy thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật…
Mặt khác, việc lạm dụng mạng xã hội cũng đưa đến tình trạng "nghiện" mạng xã hội, gây suy giảm tư duy, nhận thức, ảnh hưởng sức khỏe tâm thần, chất lượng học tập, đời sống cá nhân và sự phát triển lành mạnh của thế hệ trẻ.
Số liệu thống kê những vụ lừa đảo trực tuyến trong đó có trẻ em liên quan hoặc bị ảnh hưởng năm 2025, chứng kiến sự chuyển dịch đáng lo ngại khi các đối tượng tội phạm tập trung "săn mồi" nhằm vào giới trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên, những người thiếu kỹ năng sống và dễ bị thao túng tâm lý. Thủ đoạn "bắt cóc online" – biến thể nguy hiểm của lừa đảo trực tuyến, đã trở thành mánh khóe tinh vi, biến nạn nhân thành "tù nhân tinh thần" từ xa. Theo dữ liệu sơ bộ từ Cục A05, Bộ Công an, từ giữa năm 2024 đến tháng 8/2025, ghi nhận khoảng 50 vụ việc, giải cứu thành công 50 nạn nhân trong đó 90% là nữ giới (45 trường hợp) và 10% là nam giới (05 trường hợp), trong đó 100% thuộc nhóm tuổi 18-22, chủ yếu là sinh viên xa nhà. Thiệt hại tài chính lên đến hàng tỷ đồng, chưa kể tổn thương tâm lý kéo dài.
PGS.TS Trần Thành Nam, Phó Hiệu trưởng-Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: VGP
Đưa ra những nguy cơ hiện hữu do mạng xã hội tác động đến trẻ em hiện nay, PGS.TS Trần Thành Nam, Phó Hiệu trưởng-Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, đây là một mối quan ngại thực sự. Trung bình hiện nay, trẻ em và thanh thiếu niên trong độ tuổi vị thành niên trên thế giới và kể cả tại Việt Nam đang sử dụng khoảng 3,5 tiếng trên mạng xã hội mỗi ngày khiến nguy cơ tổn thương về sức khỏe tinh thần tăng gấp đôi. Tỉ lệ bị bắt nạt trực tuyến cũng tăng từ hai đến ba lần. Đồng thời, nhiều vụ việc được báo cáo liên quan đến hành vi tự gây hại hoặc tự tử do tham gia và học theo các video clip hoặc nội dung độc hại trên mạng xã hội.
Vì vậy, dựa trên các bằng chứng nghiên cứu và việc phân tích tác hại của việc dành quá nhiều thời gian trên không gian mạng, một số quốc gia, bắt đầu từ Úc, các nước châu Âu và châu Á, đã nghiên cứu để đưa ra các chính sách cấm hoặc quản lý chặt chẽ việc trẻ em tương tác trên mạng xã hội. Chẳng hạn, Malaysia đã tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng nhằm xây dựng các chính sách phù hợp.
Đến cuối năm 2025, nhiều nghiên cứu tiếp tục cho thấy nguy cơ khi trẻ em sử dụng mạng xã hội trong bối cảnh tích hợp AI ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Lượng thông tin mà các em tiếp nhận có thể dẫn đến tình trạng quá tải, đồng thời gây ra hiện tượng được nhắc đến nhiều trên mạng năm 2024 là "brain rot", tức "thối não". Trẻ em lên mạng học tập, có thể nhận được đáp án đúng, các câu trả lời trôi chảy, nhưng lại thiếu quá trình tư duy. Hệ quả là khả năng suy nghĩ và tư duy trở nên cùn mòn, đồng thời dễ bị dẫn dắt và thao túng bởi các thông tin trên mạng xã hội. Đặc biệt là gần đây, trẻ em lạm dụng AI để trả bài, để đối phó với việc phải nhớ, phải tư duy.
Điều này kéo theo nhiều hệ lụy khác. Giới trẻ dần mất động lực, suy giảm tư duy phản biện, kỹ năng xã hội yếu đi và dẫn đến triệt tiêu sáng tạo. Việc liên tục tiếp cận các thông tin tiêu cực cũng có thể làm thay đổi thế giới quan và nhân sinh quan của các bạn trẻ.
PGS.TS Trần Thành Nam cho biết, từ những tác động tổng hợp đó, các quốc gia trên thế giới hiện nay đang hình thành hai xu hướng chính. Xu hướng thứ nhất là cấm tuyệt đối và áp dụng các mức phạt rất cao đối với các tập đoàn công nghệ nếu để người dùng dưới độ tuổi quy định tham gia mạng xã hội. Các chính sách này thường đi kèm các chương trình nâng cao giáo dục toàn diện cho người trẻ, đặc biệt tập trung vào kỹ năng sống và kỹ năng thực tế.
Xu hướng thứ hai là quản lý và hạn chế. Ngoài việc thiết lập các tiêu chuẩn cộng đồng nghiêm ngặt trên mạng xã hội, các quốc gia xây dựng các kênh riêng dành cho trẻ em hoặc triển khai các chương trình giáo dục nhằm nâng cao kỹ năng số cho người trẻ và những người chịu trách nhiệm như giáo viên, phụ huynh, để có thể đồng hành và phát hiện các nội dung không phù hợp. Đồng thời, các chính sách cũng yêu cầu các tập đoàn công nghệ không chỉ thực hiện hậu kiểm mà còn phải tiền kiểm đối với các nội dung được đăng tải trên mạng xã hội nhằm bảo đảm không gây nguy hại cho người trẻ.
Như vậy, các bằng chứng nghiên cứu vẫn còn tồn tại những khoảng trống và tranh luận, nhưng nguy cơ tổn thương đối với người trẻ là điều không thể phủ nhận. Mạng xã hội có thể được xem như một dạng "ma túy kỹ thuật số", đang làm thay đổi các chất dẫn truyền thần kinh và thúc đẩy xu hướng học nhanh, học nông thay vì đào sâu tri thức. Đồng thời, các nguy cơ như bắt nạt trực tuyến, lộ lọt dấu chân số từ sớm, tiếp cận thông tin lừa đảo, nội dung tiêu cực hoặc đồi trụy không phù hợp với lứa tuổi là hoàn toàn có thật.
Tuy nhiên, PGS.TS Trần Thành Nam lưu ý cũng cần thận trọng để không hạn chế và cản trở quá trình học tập, tìm hiểu và kết nối thông tin của người trẻ trong một kỷ nguyên được dẫn dắt bởi AI và internet vạn vật, nơi các em có thể học tập mọi lúc, mọi nơi. Đối với Việt Nam, cần nghiên cứu các chính sách của các quốc gia khác, đồng thời phân tích bối cảnh trong nước, bao gồm mức độ hình thành năng lực số của công dân, cũng như các chính sách liên quan đến an ninh mạng và quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. Bên cạnh đó, không nên chỉ nhìn vấn đề từ góc độ cấm mạng xã hội mà cần tạo ra nhiều môi trường học thuật hấp dẫn trong đời sống thực để thu hút sự quan tâm của người trẻ. Nếu chỉ cấm trên mạng mà không xây dựng các hoạt động thay thế trong môi trường thực, thực tế thế giới đã cho thấy có nhiều hình thức lách luật của giới trẻ. Khi đó, các em có thể tìm cách sử dụng mạng xã hội dù chưa đủ tuổi mà không có sự giám sát của giáo viên hoặc cha mẹ.
Cũng từ đó phải tính toán và cân nhắc kỹ khi có nhiều trường học quá lạm dụng vào internet và các nền tảng mạng xã hội để giao bài, nhắc việc, tương tác dẫn đến các em lệ thuộc hoàn toàn vào mạng xã hội mà quên đi các hình thức giao tiếp khác với gia đình và bạn bè. Hiện nay có nhiều trường học cấm học sinh sử dụng điện thoại trong lớp học nhưng nhiều trường khác để các em được sử dụng thoải mái, coi như là việc của cá nhân các em.
PGS.TS Trần Thành Nam chỉ ra mối quan hệ giữa việc sử dụng mạng xã hội, sử dụng màn hình và sức khỏe của thanh thiếu niên đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu siêu phân tích. Các bằng chứng nghiên cứu này khá mạnh. Thời gian sử dụng màn hình càng nhiều thì cá nhân càng có xu hướng thiếu vận động.
So sánh tại Việt Nam cho thấy mức độ vận động của người trưởng thành vẫn thấp hơn so với người dân ở một số quốc gia trong khu vực. Trong khi đó, Việt Nam có dân số trẻ và tốc độ phổ cập các thiết bị công nghệ màn hình khá cao. Thời gian sử dụng internet và màn hình tại Việt Nam hiện nay khoảng 6,5 tiếng mỗi ngày, còn trẻ em sử dụng mạng xã hội trung bình khoảng 3,5 tiếng mỗi ngày.
Những năng lực và phẩm chất cần thiết cho sự phát triển của con người trong thế hệ Gen Z và Gen Alpha đang có dấu hiệu suy giảm mạnh. Ví dụ, sự kiên trì và khả năng tập trung chú ý trong thời gian dài đang giảm sút. Khả năng tập trung sâu để nghiên cứu một vấn đề quá 15 phút ở nhiều bạn trẻ hiện nay rất hạn chế hay dường như không có.
Giao tiếp trên mạng của giới trẻ hiện nay thiên về tốc độ hơn là sự chuẩn mực, vì vậy nhiều tương tác trên mạng dễ bị hiểu sai về thái độ và trở thành nguyên nhân dẫn đến bạo lực hoặc bắt nạt trên không gian mạng.
Việc sử dụng màn hình từ quá sớm cũng làm tăng tỷ lệ trẻ có dấu hiệu của chứng tăng động giảm chú ý. Tỉ lệ béo phì tăng do thiếu vận động. Các vấn đề về mắt và cột sống cũng gia tăng. Ngay cả học sinh tiểu học hiện nay cũng có nhiều em gặp vấn đề về thị lực.
Ngoài ra, có nhiều người trẻ dần cắt đứt các mối quan hệ xã hội trong đời sống thực và chuyển phần lớn tương tác sang không gian mạng. Thiếu các tương tác trực tiếp như vậy cũng làm gia tăng tỉ lệ stress, lo âu, trầm cảm, thậm chí các hành vi tự gây hại.
Ở một số khía cạnh khác, một số nghiên cứu cho rằng tương tác trên mạng xã hội có thể tạo cảm giác kết nối và nâng cao nhận thức. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy chúng ta đang phải đối diện với nhiều hệ lụy đáng lo ngại.
Một biểu hiện đáng chú ý là đến quý IV năm 2025, Việt Nam có khoảng 1,4 triệu thanh niên trong độ tuổi từ 15 đến 24 thuộc nhóm "NEET", tức không đi học, không đi làm và cũng không tham gia các chương trình đào tạo kỹ năng để gia nhập thị trường lao động. Nhiều người sau khi tốt nghiệp quay trở về nhà và không tham gia hoạt động nghề nghiệp cụ thể, trong khi dành nhiều thời gian trên mạng để sản xuất nội dung với hy
vọng nhận được quà tặng hoặc thu nhập. Nếu những đối tượng này chịu ảnh hưởng quá nhiều từ văn hóa trên mạng và thiếu kỹ năng lập thân, lập nghiệp, sẽ rất khó để thực hiện các chiến lược xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao hoặc khơi dậy khát vọng đóng góp cho đất nước.
Từ những thực tế nêu trên, PGS.TS Trần Thành Nam cho rằng ý tưởng quản lý và quy trách nhiệm cho những người chăm sóc nhằm bảo vệ trẻ em trên không gian mạng là phù hợp với bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn tồn tại nhiều khoảng trống, mâu thuẫn và bất cập.
Chẳng hạn, tiêu chuẩn cộng đồng của nhiều nền tảng mạng xã hội lại cho phép trẻ từ 13 tuổi được sử dụng dịch vụ. Điều này tạo ra một khoảng lệch so với quy định trong nước.
Bên cạnh đó, trình độ công nghệ của nhiều trẻ em hiện nay thậm chí cao hơn cha mẹ, nên các em có thể lách quy định để tham gia mạng xã hội khi chưa đủ tuổi.
Một vấn đề khác, theo PGS.TS Trần Thành Nam là cha mẹ ngày càng bận rộn, trong khi khoảng cách giữa cha mẹ và con cái cũng có xu hướng gia tăng. Nhiều phụ huynh chịu áp lực lớn về công việc, tài chính nên đôi khi sử dụng thiết bị công nghệ hoặc mạng xã hội như một cách để trông con hoặc giúp mình có thêm thời gian làm việc. Bản thân nhiều phụ huynh cũng chưa có nhận thức đầy đủ và chưa được trang bị các năng lực số cần thiết để đồng hành cùng con hoặc hướng dẫn con các kỹ năng an toàn trên không gian mạng trước khi giao thiết bị cho con sử dụng.
Một nghiên cứu của Google công bố cuối năm 2023 cho thấy độ tuổi tối thiểu để tham gia nhiều mạng xã hội là 13 tuổi. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều phụ huynh đã giao thiết bị điện tử cho con từ sớm và thậm chí còn hướng dẫn con lập tài khoản mạng xã hội từ khoảng 9 tuổi.
Trong giai đoạn từ 9 đến trước 13 tuổi, sự phát triển hệ thần kinh của trẻ còn nhiều biến động. Ở độ tuổi này, những nội dung các em tiếp nhận trên không gian mạng thường được mặc định là đúng. Những thông tin đó dễ hình thành ấn tượng, quan điểm về thế giới và tương lai của các em, trong khi khả năng thay đổi lại khá khó khăn do các em chưa có nhiều vốn sống và chưa hình thành đầy đủ tư duy phản biện.
Đây cũng là giai đoạn các em bắt đầu tìm kiếm thông tin để định hình bản sắc cá nhân. Vì vậy, các em dễ thần tượng những nhân vật trên mạng, kể cả các "giang hồ mạng" hoặc những hành vi được cho là "ngầu", mà không nhận ra các yếu tố vi phạm pháp luật hoặc lệch chuẩn phía sau.
Để khắc phục những tồn tại kể trên, theo PGS.TS Trần Thành Nam, bước đầu tiên ở cấp độ chính sách là cần xây dựng lại triết lý giáo dục trong kỷ nguyên AI và mạng xã hội, xác định rõ hệ thống giáo dục cần hướng tới những năng lực nào.
Thứ hai, cần triển khai các chương trình nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng số. Trước hết là dành cho những người có ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ em, đặc biệt là cha mẹ và giáo viên. Họ cần có kỹ năng và nhận thức đúng về các nguy cơ cũng như tác động tiêu cực của mạng xã hội khi trẻ tiếp cận quá sớm.Tiếp theo, năng lực số của học sinh cũng cần được tăng cường thông qua giáo dục và các chương trình đào tạo phù hợp.
Thứ ba, cần xây dựng các chính sách quản lý hợp lý, không để trẻ em hoàn toàn tách khỏi mạng xã hội nhưng phải có những nền tảng phù hợp với mục tiêu giáo dục. Có thể thiết kế các mạng xã hội nội bộ phục vụ học tập, nơi học sinh được sử dụng trong môi trường có giám sát và an toàn hơn, nhằm khuyến khích học tập chuyên sâu thay vì chỉ lướt nhanh và tiếp cận những nội dung thiếu giá trị.
Đồng thời, cần xây dựng hệ thống học liệu số chất lượng để phổ biến trên các nền tảng trực tuyến, đồng thời phát triển các ứng dụng gia sư AI dựa trên nguồn học liệu an toàn. Điều này giúp học sinh vẫn có thể tương tác với công nghệ và AI nhưng theo hướng có trách nhiệm, khuyến khích tư duy sâu thay vì chỉ cung cấp các câu trả lời sẵn có.
Cuối cùng, cần triển khai các chiến dịch truyền thông quy mô lớn nhằm nâng cao nhận thức xã hội, đồng thời tăng cường trách nhiệm của các tập đoàn công nghệ trong việc bảo vệ trẻ em và thúc đẩy giáo dục năng lực công dân số.
Diệp Anh-Thùy Linh
Bài 3: Trẻ em dưới 16 tuổi sử dụng mạng xã hội: Góc nhìn quốc tế về bài toán 'cấm hay quản trị'